Bài viết

Quân và dân Hà Nội với cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979

Thái Nguyên17/04/2026Ban Biên tập tổng hợp10 lượt xem0 lượt chia sẻ

Quân và dân Hà Nội với cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979

Chiến tranh biên giới phía Bắc bùng nổ

Trung Quốc là nước láng giềng của Việt Nam. Trong quá trình đấu tranh cách mạng, nhân dân hai nước gắn bó mật thiết, đoàn kết giúp đỡ nhau. Nhưng sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam thắng lợi (1975), quan hệ hai nước dần xấu đi.

Đầu năm 1979, khi Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến công đánh đổ tập đoàn phản động Pol Pot, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, mở ra công cuộc hồi sinh đất nước, chính quyền Trung Quốc cùng một số nước khác ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự xuất hiện của Quân tình nguyện Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia.

Mục đích của họ là muốn chống phá cách mạng Việt Nam, hậu thuẫn các thế lực phản động để mưu toan áp đặt lợi ích dân tộc của họ trên bán đảo Đông Dương.

Trong khi đó, bối cảnh quốc tế lúc này đang có những diễn biến rất phức tạp khi mâu thuẫn Liên Xô -Trung Quốc gia tăng căng thẳng; quan hệ Trung Quốc - Mỹ tiếp tục có sự cải thiện và cả hai đều coi Liên Xô là “kẻ thù số 1”.

Sau nhiều lần gây ra các vụ khiêu khích quân sự quy mô nhỏ, bất chấp nỗ lực giải quyết căng thẳng bằng con đường hòa bình của Việt Nam, từ 3h30 ngày 17/02/1979, Trung Quốc mở cuộc tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới dài hơn 1.400km. Sử dụng pháo binh bắn phá một số mục tiêu trong lãnh thổ của nước ta, sau đó huy động lực lượng lớn (hơn 600 nghìn quân) tiến công sang lãnh thổ Việt Nam. Hướng tiến công chủ yếu là Lạng Sơn và Cao Bằng; hướng quan trọng là Lào Cai; hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu); hướng nghi binh, thu hút lực lượng ta là Quảng Ninh và Hà Giang.

Ngày 18/2/1979, Chính phủ Việt Nam ra Tuyên bố về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của nhà cầm quyền Trung Quốc, trong đó kêu gọi toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng, triệu người như một, nhất tề đứng dậy quyết chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Một đơn vị bộ đội trên dường phố Hà Nội năm 1979 (Ảnh tư liệu)

Trong những ngày đầu của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang cùng nhân dân địa phương phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, sử dụng lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2 chiến đấu và điều động một bộ phận lực lượng của các quân khu, các tỉnh phía sau lên tăng cường.

Điển hình là Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo và điều động Sư đoàn Bộ binh 327 (Quân khu 3), Sư đoàn 337 (Quân khu 4) cơ động lên Quân khu 1; điều động 4 tiểu đoàn bộ đội địa phương thành phố Hà Nội lên mặt trận Lạng Sơn, 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương Hải Phòng đến mặt trận Quảng Ninh và 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Hà Sơn Bình lên mặt trận Hoàng Liên Sơn. Ngoài ra, đầu tháng 3/1979, Quân đoàn 2 nhanh chóng chuyển toàn bộ lực lượng từ Campuchia về tập kết ở khu vực phía Bắc Hà Nội bí mật, an toàn, sẵn sàng bảo vệ biên giới phía Bắc.

Nhằm ngăn chặn sự mở rộng tiến công xâm lược của Trung Quốc, ngày 05/3/1979, Chủ tịch nước công bố Lệnh tổng động viên lực lượng để bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, hàng triệu người ở hầu khắp các tỉnh, thành phố đã tình nguyện đăng ký gia nhập lực lượng vũ trang, ra mặt trận, lên tuyến trước xây dựng trận địa chống quân thù. Nhiều đoàn viên, thanh niên ở Hà Nội và các địa phương khác đã viết đơn tình nguyện lên biên giới để được trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Chấp hành Lệnh tổng động viên của Chủ tịch nước, trên hai hướng Quân khu 1 và Quân khu 2, toàn quân và toàn dân đã tích cực chuẩn bị, tăng cường tổ chức lực lượng, củng cố và xây dựng thêm một số đơn vị, sẵn sàng chiến đấu, tập trung cho phản công đánh bật quân Trung Quốc ra khỏi biên giới Tổ quốc. Trước những tổn thất lớn về lực lượng và bị dư luận quốc tế phản đối mạnh mẽ, ngày 05/3/1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân. Với truyền thống nhân nghĩa và lòng mong muốn củng cố hòa bình, hữu nghị giữa nhân dân hai nước, Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam chỉ thị cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trên vùng biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động tiến công quân sự để Trung Quốc được yên ổn rút toàn bộ lực lượng và phương tiện chiến tranh về nước. Đến ngày 18/3/1979, trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, quân Trung Quốc đã rút khỏi đất Việt Nam.

Quân và dân Thủ đô với cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc

Khi cuộc chiến nổ ra, ở hậu phương Thủ đô Hà Nội, tinh thần sẵn sàng chiến đấu, chi viện chiến trường để bảo vệ vẹn toàn biên giới, lãnh thổ Tổ quốc cũng lên cao hơn bao giờ hết. Mỗi ngày, Ban Chỉ huy quân sự các quận, huyện, thị xã của Thủ đô Hà Nội và địa bàn tỉnh Hà Tây (lúc này nằm trong tỉnh Hà Sơn Bình) nhận được hàng trăm lá đơn xung phong tình nguyện lên đường chiến đấu, trong đó có những lá đơn viết bằng máu.

Ngoài ra, thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quân khu Thủ đô (Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội ngày nay) đã xác định nhiệm vụ: Phải khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng, kiện toàn hệ thống tổ chức, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm tốt công tác dân vận, tích cực, chủ động xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, xây dựng hệ thống công trình tuyến phòng thủ của Thủ đô.

Bộ đội trên một xe quân sự chi viện biên giới phía Bắc (Ảnh tư liệu)

Cơ quan quân sự các cấp được kiện toàn, củng cố và cấp thêm vũ khí cho các trận địa hỏa lực đánh địch đổ bộ bằng đường không, duy trì chế độ thường xuyên trực sẵn sàng chiến đấu, kiểm tra báo động thường xuyên.

Bên cạnh lực lượng thường trực, lực lượng dân quân tự vệ được tăng cường từ 12% lên 14,5% so với dân số. Dân quân một số xã trọng điểm như: Đường Lâm (Sơn Tây), Yên Sở (Hoài Đức), Thanh Cao (Thanh Oai), Tiên Phương (Chương Mỹ)… thành lập quy mô tiểu đoàn. Tự vệ Nhà máy Cơ khí Bông Sen (Hà Đông), Công ty Xây dựng đường 6 tổ chức quy mô trung đoàn.

Lực lượng dân quân cơ động ở mỗi xã thành lập một đại đội và mỗi trung đoàn tự vệ có một tiểu đoàn cơ động. Các quận, huyện, thị xã thành lập tiểu đoàn dự nhiệm. Mọi công dân nam từ 18 đến 45 tuổi, nữ từ 18 đến 35 tuổi có đủ điều kiện đều gia nhập dân quân tự vệ, khẩn trương luyện tập quân sự, sẵn sàng chiến đấu cao.

Do chủ động xây dựng lực lượng nên Thủ đô Hà Nội và các quận, huyện, thị xã thuộc địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ) đã sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc. Tỉnh Hà Tây (cũ) đã tiễn Trung đoàn 541 bổ sung vào đội hình Sư đoàn 326 (Quân khu 2) tham gia chiến đấu tại Lai Châu; Trung đoàn 169 bổ sung cho tỉnh Cao Bằng; 6.780 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 587 tăng cường cho mặt trận hướng Tây Bắc. Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô quyết định bổ sung nhiệm vụ, biên chế cho Trung đoàn 47 để trở thành trung đoàn bộ binh chiến đấu hoàn chỉnh, bảo vệ Thủ đô[1].

Ngoài ra, để ứng phó với tình hình biên giới phía Bắc diễn biến phức tạp, khó lường, công tác tuyển quân khi đó đạt khối lượng lớn hơn những năm trước. Thành phố Hà Nội đã giao 16.210 người cho các đơn vị, đạt 81,27% kế hoạch. Các huyện, thị xã của tỉnh Hà Tây (cũ) đã tuyển chọn 7.500 thanh niên nhập ngũ đợt 1 năm 1979, trực tiếp giao cho các Quân khu 1, 2, 3 bổ sung cho các đơn vị đóng quân ở khu vực biên giới[2].

Cùng thời gian này, hai huyện Chương Mỹ và Thường Tín nhận lệnh động viên 2 tiểu đoàn chi viện mặt trận Lào Cai. Cùng với đó, các huyện, thị xã của tỉnh Hà Tây (cũ) đã đưa hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lực lượng dân quân tự vệ đi xây dựng các nông trường, lâm trường sát biên giới các tỉnh Lai Châu, Sơn La (chiếm 17,4% dân số)…

Sự chuẩn bị chu đáo của Thủ đô Hà Nội và tỉnh Hà Tây (cũ) năm 1979 đã góp phần chi viện kịp thời cho biên giới phía Bắc, đẩy lùi quân xâm lược, bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ Tổ quốc. Không những thế, chủ trương này còn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng bảo vệ vững chắc Thủ đô yêu dấu những năm sau đó.

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”-biểu tượng sáng ngời của ý chí quật cường dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam

Cuổi năm 1972 chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” bị phá sản sau những thất bại liên tiếp, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam với biểu thời gian ngày 20/10 ký tắt tại Hà Nội và ngày 26/10 lễ ký kết hiệp định chính thức giữa 4 bên (Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa) tại Paris.

Tuy nhiên, sau đó Nhà Trắng kéo dài thời gian, trì hoãn kỷ kết với mục đích tranh thủ những lá phiếu tín nhiệm dành cho Nixon trong bầu cử Tổng thống. Sau khi tái đắc cử (8/11/1972), Nixon đã bội ước, lên kế hoạch leo thang phá hoại Bắc Việt Nam bằng máy bay ném bom chiến lược B-52.

Ngày 14/12/1972, Nixon phê chuẩn kế hoạch tập kích mật danh Line Backer II với quy mô lớn nhất đánh phá ác liệt Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã khác nhằm tàn phá và răn đe Bắc Việt Nam, gây sức ép buộc ta phải hạ thấp một số điều khoản trong đàm phán; trấn an chính quyền Sài Gòn; để Mỹ rút quân trên thế mạnh và đây là những cố gắng quân sự cuối cùng của Mỹ ở Việt Nam. Mỹ tin rằng “siêu pháo đài bay bất khả chiến bại B-52” sẽ đưa Bắc Việt Nam quay về thời kỳ đồ đá và một số báo chí Mỹ đã vội tung tin, phác họa bức tranh hãi hùng “Hà Nội sẽ là một khu vực chết” nhưng kết cục thì chúng nhận sự tổn thất nặng nề chưa từng có.

Thắng lợi của quân và dân ta là thắng lợi của ý chí quyết tâm cao độ của đất nước, con người nhưng trên hết thắng lợi của niềm tự hào, biểu tượng sáng ngời của ý chí quật cường dựng nước đi đôi với giữ nước trong lịch sử dân tộc; là bài học quý báu của tinh thần không có gì quý hơn độc lập, tự do và tài nghệ thuật quân sự Việt Nam độc đáo, sáng tạo. Lần đầu tiên, quân và dân ta tổ chức thành công chiến dịch phòng không quy mô lỏn, tạo sự bất ngờ và nỗi kinh hoàng cho quân xâm lược Mỹ, đồng thời làm chấn động dư luận thế giới.

Pháo đài bay B-52, át chủ bài của không lực Hoa Kỳ (Ảnh tư liệu)

Thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ, ý chí quật cường của đất nước, dân tộc, con người Việt Nam trước sức mạnh vũ khí, phương tiện kỹ thuật của Mỹ

Thắng lợi đã gợi cho chúng ta nhớ tới một câu trong Kinh Thánh “sự thông minh cao hơn mọi thứ vũ khí”. Bởi so sánh lực lượng giữa ta và Mỹ lúc đó là một sự chênh lệch lớn, cán cân sức mạnh vật chất, kỹ thuật nghiêng hẳn về phía Mỹ. Máy bay B-52 khi đó từng được quảng cáo là siêu pháo đài bay thượng đẳng bất khả xâm phạm, là niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ; là sản phẩm hội tụ những thành tựu kỳ diệu nhất của nền công nghiệp hàng đầu thế giới; là thứ vũ khí linh hoạt nhất trong bộ ba vũ khí chiến lược (tên lửa tầm xa, tàu ngầm hạt nhân, máy bay ném bom chiến lược) của Mỹ.

Máy bay B-52 trút bom như mưa, tiếng bom rơi xé nát không khí, gầm rít ghê rợn như dông bão. Một tốp 3 chiếc máy bay B-52 sẽ biến một khu vực rộng 2 km2 thành bình địa. Đối phương sẽ bị hủy diệt về quân sự, khiếp đảm về tinh thần và họ cảm thấy hoàn toàn bất lực trước sức mạnh tàn phá ghê gớm của máy bay B-52 mà không có cách gì chống đỡ nổi.

Trong cuộc tập kích đường không này, Mỹ đã huy động tối đa sức mạnh bao gồm gần 1/2 số máy bay chiến lược B-52 (193/400 chiếc, thực tế xuất kích 663 lần chiếc), gần 1/3 số máy bay chiến thuật (999/3.041 chiếc, thực tế xuất kích 3.920 lần chiếc), 1/4 sổ tàu sân bay (6/24 chiếc) cùng một số lượng lớn máy bay phục vụ như tiếp dầu trên không, gây nhiễu điện tử, trinh sát, chỉ huy, dẫn đường, liên lạc… và một sổ lượng lớn tàu khu trục, tàu tên lửa, tàu ra-đa, tàu bảo vệ, tàu cấp cứu... của Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương. Lực lượng được Mỹ huy động bằng tổng lực lượng không quân của 3 nước mạnh nhất châu Âu hồi đó là Anh, Đức, Pháp gộp lại.

Thế nhưng với bản lĩnh, trí tuệ và ý chí quật cường, chúng ta đã giáng cho không lực Mỹ đòn thảm bại với 81 máy bay các loại bị bắn hạ trong đó có 34 chiếc máy bay B-52.

Thẳng lợi của ý chí quyết tâm dám đánh, biết đánh, quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược

Nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, trước âm mưu thâm độc của kẻ thù và diễn biến tình hình chúng ta luôn chủ động, giữ vững ý chí quyết tâm dám đánh, biết đánh, quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Ngay từ những năm 1960, dự kiến âm mưu và hành động chiến tranh của Mỹ, trên bước đường cùng có thể chúng sẽ leo nấc thang cao nhất trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng máy bay B-52; Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa máy bay B-52 đánh ra Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua”. Người nhấn mạnh: Phải dự kiến trước hết mọi tình huống càng sớm càng tốt để có thời gian chuẩn bị bởi “trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng; ở Việt Nam Mỹ nhất định sẽ thua nhưng chúng chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Tháng 6/1972, Bộ Chính trị họp đã ra Nghị quyết nhấn mạnh “Đế quốc Mỹ đã trắng trợn gây lại chiến tranh phá hoại trên miền Bắc nước ta với mức độ quyết liệt hơn nhiều so với trước. Nhân dân ta phải luôn luôn vững vàng, phải tiếp tục chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống”.

Ngày 24/11/1972, sau khi phê duyệt Kế hoạch đánh máy bay B-52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của quân chủng Phòng không - Không quân, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng trực tiếp ra lệnh “phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị trước ngày 03/12/1972” và chỉ thị: “Trước và sau ngày Richard Nixon nhận chức Tổng thống, Mỹ có thể tập kích bằng không quân chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng. Các đồng chí phải nắm địch thật chắc. Tuyệt đối không để bị bất ngờ, phải tập trung mọi khả năng nhằm đúng đối tượng máy bay B-52 mà tiêu diệt”.

Trên cơ sở những nhận định và sự chỉ đạo sáng suốt của Bộ chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, quân ta đã sớm xây dựng, triển khai kế hoạch chiến dịch đánh trả cuộc tập kích đường không bằng máy bay B-52 của Mỹ; chủ động biên soạn các tài liệu hướng dẫn cách đánh máy bay B-52; tổ chức điều chỉnh đội hình, triển khai sở chỉ huy các cấp, huấn luyện các kíp chiến đấu, giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng quyết tâm, bảo đảm vũ khí, khí tài, cơ sở vật chất... chặt chẽ từ trên xuống dưới và hoàn thành đúng thời gian quy định. Đồng thời, qua phân tích, tổng hợp các nguồn thông tin đầu tháng 12/1972, chúng ta đã đi đến nhận định “Việc máy bay B-52 đánh vào Hà Nội chỉ còn là ngày một ngày hai”. Quân đội Mỹ dù hiện đại đến đâu cũng không sao tránh khỏi những sơ hở và lộ liễu.

Ngày 16/12, quân báo của ta nắm được tin 2 tàu sân bay Mỹ tiến vào biển Đông, nâng tổng số tàu sân bay ở đây lên 6 chiếc; nhiều máy bay tiếp dầu trên không KC-135 được bổ sung đến Philippin.

Ngày 18/12, lúc 10:15 và 11:46, 2 máy bay không người lái trinh sát Hà Nội, Hải Phòng, điện về căn cứ “thời tiết bảo đảm cho không quân hoạt động”. Lúc 12.00, 32 chiếc máy bay B-52 đã cất cánh từ Gu-am. Trực ban Ra-đa tổng hợp tình hình trong ngày 18/12 thấy hoạt động của không quân địch giảm đột ngột; trừ 2 máy bay trinh sát Hà Nội, Hải Phòng, không phận Bắc vĩ tuyến 20 hoàn toàn yên tĩnh. Tổng hợp các nguồn tin, các dấu hiệu đó, chúng ta đi đến khẳng định chắc chắn đêm 18/12 địch sẽ đánh lớn vào Hà Nội, leo nấc thang cao nhất trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng máy bay B-52. Và như vậy, quân dân ta đã hoàn toàn giành thế chủ động, không bị bất ngờ trước đòn tập kích của địch.

Máy bay B-52 bị bắn rơi tại Phù Lỗ, Đông Anh, Hà Nội (Ảnh tư liệu Bảo tàng Phòng không - Không quân)

Thắng lợi của chiến tranh nhân dân Việt Nam trước không lực Hoa Kỳ có vũ khí trang bị hiện đại bậc nhất lúc bấy giờ

Đây là thắng lợi của nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân với hình thức mới - chiến tranh nhân dân đất đối không; là chiến thắng của nghệ thuật sử dụng lực lượng, bày binh bố trận, cơ động tác chiến nhằm phát huy cao độ khả năng chiến đấu của các lực lượng, tạo thành sức mạnh tổng hợp đón đánh máy bay của kẻ thù trên mọi hướng, từ xa đến gần.

Bộ đội cao xạ, các đơn vị phòng không nhân dân và các tổ đội bộ binh đón lõng thì tập trung đánh máy bay bay thấp để tránh sự phát hiện của ra đa để bảo vệ những mục tiêu trọng yểu. Các đơn vị tên lửa được ưu tiên để tiêu diệt pháo đài bay B-52. Bộ đội Ra đa vượt qua mọi trở ngại với khẩu hiệu hành động “vạch nhiễu tìm thù” chỉ thị cho tên lửa và máy bay MiG của ta xuất kích đã trở thành huyền thoại trong đánh Mỹ. Không quân với cách đánh du kích, dùng tốp nhỏ, chiếc lẻ xông thẳng vào đội hình dày đặc máy bay tiêm kích bảo vệ máy bay B-52, buộc chúng phải quay ra đối phó, đội hình bay rối loạn, để lộ máy bay B-52 tạo điều kiện cho tên lửa tiêu diệt...Vỉệt Nam đã phát huy được sức mạnh phòng không nhân dân tạo nên lưới lửa dày đặc, nhiều tầng, nhiều nấc, không cho máy bay địch chạy thoát. Từ xa đến gần, trên mọi tầng cao, cả chính diện, bên sườn, phía sau, máy bay địch luôn bị hệ thống hỏa lực phòng không dày đặc được ví như “rồng lửa Thăng Long” vây chặt.

Hà Nội linh thiêng và hào hoa trở thành “Thăng Long chiến địa”, là vùng chết của kẻ thù; đúng như John P. McConnell, Tham mưu trưởng không quân Mỹ trong những năm 1965-1969, thú nhận “Lực lượng phòng không của Bắc Việt là đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà phi công Mỹ chưa bao giờ gặp phải”. Còn thiếu tá phi công Jhon Gauder sau mấy lần thoát chết đã khiếp đảm thốt lên: “Bay vào vùng châu thổ sông Hồng, chúng tôi đã gặp phải một lưới lửa nhiều tầng, trên tất cả mọi độ cao. Bay thấp thì bị đạn cao xạ bắn. Bay độ cao trung bình thì lại bị tên lửa SAM2 và máy bay MIG truy đuổi”. Chẳng thể mà trong chiến dịch “Bão táp sa mạc” năm 1991, Mỹ cũng sử dụng máy bay B-52 oanh tạc I-rắc trong khi đó I-rắc có hệ thống ra đa, tên lửa mạnh hơn Việt Nam vào thời điểm năm 1972 nhiều lần, nhưng I-rắc không bao giờ có được 1 xác máy bay B-52 (chỉ có 1 chiếc hỏng động cơ rơi ở Ấn Độ Dương) còn ta có cả một bảo tàng chiến thắng B-52.

Với phương châm “mỗi khu phố là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sỹ” nên ngay cả trong tiếng đạn bom rung trời, chuyển đất, trong khói lửa mịt mùng và đổ nát vẫn có những nam nữ thanh niên tiếp đạn, tải thương, thay lá ngụy trang; vẫn có các mẹ già tiếp tế đến từng khẩu đội thăm hỏi, động viên; vẫn có những nghệ sĩ xuống từng trận địa, mang lời ca tiếng hát phục vụ các chiến sĩ bên mâm pháo nóng bỏng; vẫn có những dân công không sợ hiểm nguy, xông lên trong bom đạn san lấp các hổ bom, sửa chữa các đường băng, ụ pháo, trận địa cho đạn tên lừa, đạn cao xạ của ta lại vạch trời đêm lao đi tìm diệt máy bay Mỹ.

Chỉ cần thấy thấp thoáng những cánh dù của giặc lái Mỹ rơi, lập tức hàng chục, hàng trăm người từ các hầm trú ẩn vọt ra, kẻ gậy, người dao, rầm rập kéo nhau đi như trẩy hội lùng bắt giặc lái Mỹ. Sức mạnh của sự đoàn kết, đồng lòng đã được huy động góp phần làm nên chiến thắng. Đồng thời, ờ khắp các địa phương đã tổ chức tốt hàng trăm đài quan sát từ xa đến gần, hệ thống thông báo báo động bằng còi, kẻng, loa khắp các bản làng, thôn xóm, công sở, nhà máy; tổ chức tốt việc ngụy trang, trồng cây xanh và đào công sự ven đường, dọc phố, xây dựng trận địa giả nghi binh lừa địch, sơ tán gần 30 vạn dân Hà Nội ra khỏi khu vực đánh phá trọng điểm trong trật tự, an toàn.

Không phải ngẫu nhiên báo “Thể giới” của Pháp viết “đối diện với quân đội Mỹ là cả một dân tộc kiên quyết với tinh thần dũng cảm vô song không hề biết sợ trước bất kể kẻ thù nào”. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara thừa nhận “những cuộc ném bom hủy diệt của Mỹ đã không thể nào tiêu diệt được ý chí của cả một dân tộc”. Còn Jhoreed Ival, đạo diễn điện ảnh nổi tiếng của Hà Lan thì nhận xét “đã từng chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh, nhưng tôi chưa thấy ở nơi nào trên thế giới mà cả dân tộc kết thành một khối cùng đánh giặc như ở Việt Nam”. Đây chính là nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo huy động sức mạnh tổng hợp của dân tộc để đánh thắng kẻ thù xâm lược, không chịu khuất phục trước máy bay B-52, trước bom đạn của đế quốc Mỹ.

Trong Chiến dịch Phòng không tháng 12/1972, chiến tranh nhân dân đất đối không được phát triển lên đến đỉnh cao, cộng với trí thông minh và ý chí quyết tâm của quân và dân ta tạo thành điểm tựa, là cái gốc của mọi sức mạnh để làm nên chiến tích oanh liệt, thần kỳ như một Điện Biên Phủ thứ hai. Đó cũng chính là biểu tượng sáng ngời của ý chí quật cường dựng nước đi đôi với giữ nước trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn