Bài viết

QUANG TRUNG – NGUYỄN HUỆ: ANH HÙNG DÂN TỘC, NHÀ QUÂN SỰ KIỆT XUẤT VÀ NGƯỜI CÓ CÔNG LỚN TRONG SỰ NGHIỆP THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC, BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC

Nguyễn Vũ Hà Linh

Thái Nguyên16/08/2026xã Cẩm Giang (Xã Cẩm Giang)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
QUANG TRUNG – NGUYỄN HUỆ: ANH HÙNG DÂN TỘC, NHÀ QUÂN SỰ KIỆT XUẤT VÀ NGƯỜI CÓ CÔNG LỚN TRONG SỰ NGHIỆP THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC, BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC

Nguyễn Huệ sinh năm 1753, mất ngày 16 tháng 9 năm 1792, quê ở đất Tây Sơn, Bình Định. Ông qua đời khi mới 39 tuổi. Tuy nhiên, 21 năm cuối cuộc đời, từ năm 1771 đến năm 1792, là một chặng đường hoạt động đầy sôi nổi, gắn liền với những chiến công lớn, tiêu biểu cho khí phách và sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động.

Những dấu mốc nổi bật trong sự nghiệp của Nguyễn Huệ

Năm 1771, khi mới 18 tuổi, Nguyễn Huệ cùng người anh là Nguyễn Nhạc phất cờ khởi nghĩa Tây Sơn, xây dựng căn cứ đầu tiên tại Tây Sơn thượng đạo.

Từ năm 1773 đến năm 1783, trên các cương vị Tây Sơn hiệu Tiền phong tướng quân, Phụ chính, Long Nhượng tướng quân trong bộ chỉ huy nghĩa quân, Nguyễn Huệ đã lập nhiều chiến công trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Tiêu biểu là trận Phú Yên năm 1775; các cuộc tiến công vào Gia Định năm 1777, 1782 và 1783.

Năm 1785, ở tuổi 32, Nguyễn Huệ trực tiếp lãnh đạo cuộc phản công chiến lược, đánh tan quân xâm lược Xiêm ở Gia Định, làm nên chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút nổi tiếng. Trong trận đánh này, quân Tây Sơn đã tiêu diệt một lực lượng lớn quân Xiêm cùng quân Nguyễn Ánh, góp phần khẳng định tài năng quân sự của Nguyễn Huệ.

Năm 1786, Nguyễn Huệ chỉ huy quân Tây Sơn tiến ra Đàng Ngoài, lật đổ chính quyền chúa Trịnh, chấm dứt tình trạng chia cắt kéo dài hơn hai thế kỷ, từng bước thực hiện sự nghiệp thống nhất quốc gia.

Năm 1789, với cương vị Hoàng đế Quang Trung, Nguyễn Huệ trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lược. Cuộc tiến công thần tốc với những trận đánh quyết định tại Ngọc Hồi – Đống Đa đã làm nên chiến thắng vang dội, đánh tan quân Thanh và lực lượng Lê Chiêu Thống, bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc.

Sau thắng lợi, Quang Trung khẳng định sức mạnh của quân dân Đại Việt bằng lời tuyên bố: “Trẫm trỏ cờ lệnh, chỉ trong một trận, quét sạch lũ các ngươi như kiến cỏ.”

Quang Trung – Nguyễn Huệ và sự nghiệp xây dựng đất nước

Sau khi cơ bản đánh bại các thế lực thù trong, giặc ngoài, Quang Trung tập trung vào nhiệm vụ xây dựng và củng cố quốc gia.

Trước hết, ông chủ trương nhanh chóng khôi phục quan hệ bang giao với nhà Thanh, đồng thời triển khai nhiều chính sách nhằm phục hồi sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế hàng hóa, mở mang giáo dục và văn hóa.

Chiếu khuyến nông và Chiếu lập học là những văn bản thể hiện rõ sự quan tâm của Quang Trung đối với hai lĩnh vực trọng yếu là phát triển nông nghiệp và giáo dục.

Bên cạnh đó, ông đặc biệt coi trọng việc củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh và trấn áp các thế lực chống đối trong nước. Năm 1791, âm mưu chống phá của Lê Duy Chỉ ở Cao Bằng, có sự hỗ trợ của phong kiến Xiêm và Nguyễn Ánh, bị đánh tan.

Năm 1792, Quang Trung chuẩn bị một cuộc tiến công quy mô lớn vào Gia Định nhằm đánh bại thế lực Nguyễn Ánh. Ông khẳng định quyết tâm thu hồi các vùng đất phía Nam và củng cố nền thống nhất quốc gia. Ngày 27-8-1792, Quang Trung truyền hịch kêu gọi nhân dân hai phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn tham gia, hưởng ứng cuộc tiến công.

Tuy nhiên, chiến dịch chưa kịp triển khai thì Quang Trung đột ngột qua đời vào giờ Tý, tức nửa đêm ngày 15 sang ngày 16 tháng 9 năm 1792.

Sự nghiệp canh tân, xây dựng đất nước của Quang Trung vì thế bị dang dở. Sự ra đi của ông là tổn thất lớn đối với lịch sử Tây Sơn và dân tộc Việt Nam.

Một nhà lãnh đạo quân sự kiệt xuất

Người khởi xướng và thủ lĩnh đầu tiên của khởi nghĩa Tây Sơn là Nguyễn Nhạc. Tuy nhiên, xét trên toàn bộ quá trình phát triển của phong trào Tây Sơn, Nguyễn Huệ là vị thủ lĩnh kiệt xuất nhất. Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với những thắng lợi quan trọng của phong trào nông dân và phong trào dân tộc cuối thế kỷ XVIII.

Từ một anh hùng nông dân, Nguyễn Huệ đã trở thành một anh hùng dân tộc, có những đóng góp lớn đối với sự nghiệp thống nhất đất nước và bảo vệ độc lập dân tộc.

Quang Trung – Nguyễn Huệ trước hết là một nhà quân sự thiên tài. Trong cuộc đời chiến đấu của mình, ông liên tiếp giành thắng lợi trước nhiều thế lực đối địch.

Nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ nổi bật bởi tinh thần tiến công mạnh mẽ, liên tục, tốc độ hành quân thần tốc và khả năng tạo yếu tố bất ngờ. Chính đối phương cũng phải thừa nhận quân Tây Sơn “hành binh như bay, tiến quân rất gấp” và “ẩn hiện như quỷ thần, tướng như trên trời rơi xuống, quân như dưới đất chui lên”.

Bằng việc phát huy sức mạnh quật khởi của nông dân kết hợp với sức mạnh yêu nước, đoàn kết của dân tộc, Quang Trung – Nguyễn Huệ đã đưa phong trào Tây Sơn đạt tới những thắng lợi cao nhất trong bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XVIII, đồng thời góp phần phát triển nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc lên một trình độ mới.

Tầm nhìn chính trị và năng lực tổ chức đất nước

Quang Trung – Nguyễn Huệ không chỉ là một nhà quân sự tài ba mà còn là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao.

Trong quá trình lãnh đạo phong trào Tây Sơn, Nguyễn Huệ chú trọng tập hợp lực lượng quần chúng, sử dụng những khẩu hiệu phù hợp với từng hoàn cảnh nhằm cổ vũ nhân dân và phân hóa đối phương.

Khi tiến quân ra Bắc Hà, ông nêu danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”, qua đó tập hợp lực lượng, phân hóa và cô lập đối phương.

Sau khi chính quyền mới được thành lập, Quang Trung đề ra nhiều chính sách nhằm khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất, tăng cường quốc phòng và mở mang văn hóa, giáo dục.

Trong quan hệ với nhà Thanh, ông thực hiện đường lối ngoại giao mềm dẻo nhưng kiên quyết, bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc, đồng thời duy trì quan hệ bang giao hòa bình giữa hai nước.

Những hoạt động trên cho thấy ý chí độc lập, tự chủ, tầm nhìn chính trị và năng lực tổ chức của Quang Trung – Nguyễn Huệ.

Ba lần Nguyễn Huệ tiến quân ra Thăng Long

Trong cuộc đời hoạt động của mình, Nguyễn Huệ có ba lần tiến quân ra Thăng Long, mỗi lần đều diễn ra trong thời gian tương đối ngắn nhưng để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử kinh thành.

Lần thứ nhất: Năm 1786 – lật đổ chính quyền chúa Trịnh

Tháng 6 năm 1786, Nguyễn Huệ được Nguyễn Nhạc giao nhiệm vụ đưa quân ra Bắc. Sau khi đánh chiếm Phú Xuân và tiến ra bờ Nam sông Gianh, Nguyễn Huệ nghiên cứu tình hình Đàng Ngoài và quyết định tiếp tục đưa phong trào Tây Sơn ra Bắc, đánh đổ chính quyền chúa Trịnh.

Chỉ trong khoảng 10 ngày, quân Tây Sơn dưới danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh” đã đánh tan quân Trịnh, lật đổ nền thống trị của chúa Trịnh.

Ngày 21-7-1786, Nguyễn Huệ dẫn đại quân tiến vào Thăng Long. Ngày 30-7, lễ triều kiến chính thức được tổ chức tại điện Kính Thiên. Vua Lê Hiển Tông ban Chiếu thư nhất thống và phong Nguyễn Huệ làm Nguyên súy Phù chính Dực vũ Uy quốc công, đồng thời gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ.

Trong lần tiến quân này, Nguyễn Huệ đã góp phần chấm dứt tình trạng phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài kéo dài hơn 200 năm và bước đầu thực hiện sự nghiệp thống nhất đất nước.

Lần thứ hai: Năm 1787 – ổn định tình hình Bắc Hà

Cuối năm 1787, trước tình hình Bắc Hà rối ren, Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm cùng Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân đưa quân ra Bắc đánh Nguyễn Hữu Chỉnh.

Lê Chiêu Thống bỏ trốn. Tuy nhiên, tình hình tiếp tục diễn biến phức tạp do Vũ Văn Nhậm có ý chuyên quyền.

Lần thứ ba: Năm 1788 – chuẩn bị đối phó quân Thanh

Mùa hè năm 1788, Nguyễn Huệ trực tiếp đưa quân ra Thăng Long lần thứ ba, đánh bại Vũ Văn Nhậm và tiến hành sắp xếp lại bộ máy chính quyền, ổn định tình hình Bắc Hà.

Nhiều sĩ phu tiến bộ ở Thăng Long và Bắc Hà đã tự nguyện theo Tây Sơn, phò tá Nguyễn Huệ, trong đó có Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Trần Bá Lãm, Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn...

Uy tín của Tây Sơn và Nguyễn Huệ ngày càng có ảnh hưởng trong các tầng lớp xã hội ở Bắc Hà.

Đại thắng mùa Xuân Kỷ Dậu năm 1789

Cuối năm 1788, lợi dụng việc Lê Chiêu Thống cầu cứu, nhà Thanh đưa quân xâm lược Đại Việt, do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy, tiến vào chiếm đóng Thăng Long.

Thực hiện chủ trương bảo toàn lực lượng, quân Tây Sơn rút về phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn và cấp tốc báo tin về Phú Xuân cho Nguyễn Huệ.

Ngày 21-12-1788, tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ nhận được tin cấp báo. Ngày hôm sau, ông làm lễ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, rồi lập tức ra lệnh xuất quân tiến ra Bắc đánh giặc.

Đêm giao thừa Tết Kỷ Dậu, ngày 25-1-1789, cuộc tiến công đại phá quân Thanh bắt đầu.

Đạo quân chủ lực do Quang Trung trực tiếp chỉ huy tiến công hệ thống phòng thủ phía Nam Thăng Long, trong đó đồn Ngọc Hồi là vị trí then chốt.

Mờ sáng ngày 5 Tết Kỷ Dậu, quân Tây Sơn công phá đồn Ngọc Hồi. Đồng thời, một đạo quân khác tiến về phía Đống Đa, bất ngờ đánh vào đồn Đống Đa rồi thừa thắng tiến sâu vào đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị.

Hai mũi tiến công phối hợp với tốc độ thần tốc đã khiến hệ thống phòng ngự của quân Thanh nhanh chóng sụp đổ. Tôn Sĩ Nghị phải tháo chạy về phía Bắc. Quân Thanh đại bại, một bộ phận bị tiêu diệt, số còn lại rút chạy trong tình trạng hỗn loạn.

Trưa ngày 5 Tết, Quang Trung trong bộ chiến bào sạm màu thuốc súng, cưỡi voi chiến tiến vào thành Thăng Long trong sự chào đón của nhân dân kinh thành.

Nhà thơ Ngô Ngọc Du đã ghi lại không khí ấy:

“Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến,

Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh.

Mây tạnh mù tan trời lại sáng,

Đầy thành già trẻ mặt như hoa.”

Chiến thắng mùa Xuân Kỷ Dậu năm 1789 đã trở thành một trong những chiến công lớn trong lịch sử đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc.

Nhân dân Thăng Long và các vùng phụ cận cũng có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi chung. Nhân dân vùng Ngọc Hồi đem phản, cửa để quân Tây Sơn ghép thành những tấm mộc chắn tên đạn. Nhân dân các làng xã vùng Khương Thượng – Đống Đa dùng rơm rạ bện thành hình rồng, tẩm chất cháy, tạo thành “trận rồng lửa” uy hiếp quân địch.

Ngày nay, nhiều di tích và địa danh trên đất Hà Nội vẫn gắn liền với chiến công mùa Xuân Kỷ Dậu. Hằng năm, vào ngày mùng 5 Tết, nhân dân tổ chức lễ hội Đống Đa để tưởng niệm những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc và tôn vinh người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ.

Một bản hùng ca của dân tộc

Từ tuổi 18 đến tuổi 39, Nguyễn Huệ đã dành toàn bộ tài năng, nghị lực và tâm huyết cho sự nghiệp đấu tranh vì nhân dân, vì độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia.

Ông từng khẳng định mục tiêu của mình là “quét trừ loạn lạc, cứu dân trong vòng nước lửa”, đồng thời nêu cao quyết tâm “đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Cuộc đời và sự nghiệp của Quang Trung – Nguyễn Huệ là một dấu son nổi bật trong lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XVIII. Từ một người anh hùng của phong trào Tây Sơn, ông đã trở thành một anh hùng dân tộc có những đóng góp lớn đối với sự nghiệp thống nhất đất nước và bảo vệ nền độc lập.

Như công chúa Ngọc Hân đã viết trong Ai tư vãn:

“...Mà nay áo vải cờ đào/ Giúp dân dựng nước xiết bao công trình.”

Quang Trung – Nguyễn Huệ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Việt Nam với tài năng quân sự kiệt xuất, ý chí độc lập, tinh thần quyết đoán và những nỗ lực xây dựng, củng cố quốc gia. Những chiến công Rạch Gầm – Xoài Mút, Phú Xuân, Thăng Long, Ngọc Hồi – Đống Đa cùng những chủ trương về kinh tế, giáo dục, văn hóa, quốc phòng và ngoại giao đã góp phần tạo nên một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử dân tộc.

Quang Trung – Nguyễn Huệ mãi là biểu tượng tiêu biểu của tinh thần quật cường, ý chí độc lập, thống nhất và bảo vệ chủ quyền của dân tộc Việt Nam.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn