Bài viết

*Một thời hoa lửa – Chuyện về Anh hùng Hoàng Văn Thượng*

Tây Ninh05/05/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh năm 1948 ở Bản Giăn, xã Lăng Hiếu, Trùng Khánh, Cao Bằng, Hoàng Văn Thượng là con trai dân tộc Tày. Chín tuổi mồ côi mẹ, vài năm sau cha ốm yếu, tuổi thơ của anh là những ngày vừa cắp sách vừa lao động nuôi bố và em gái. Học xong lớp 7, anh xin làm công nhân thủy lợi để có tiền thuốc thang cho cha và nuôi em ăn học. Lớn lên bên dòng Quây Sơn xanh trong, nghe thầy cô kể về La Văn Cầu, Phùng Văn Khầu, Triệu Báo, trong anh sớm nung nấu ý chí “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

Ngày 16/4/1968, tròn 20 tuổi, anh nhập ngũ vào H20, D4 đặc công, F305. Buổi chia tay, người cha run run dặn: “Ở nhà con đã là con ngoan. Đến đơn vị, con phải làm tốt hơn đấy nhé!”. Lời dặn ấy theo anh suốt đời trận mạc. Hơn nửa thế kỷ sau, nhắc lại ông vẫn nghẹn ngào.

Sau 6 tháng huấn luyện ở Chương Mỹ, Hà Tây, tháng 12/1968 anh vào chiến trường Trị Thiên. Trận đầu ở cao điểm 544, Gio Linh, Quảng Trị, cả trung đội bôi than bò qua bãi trống gần 1 cây số để diệt 100 lính Mỹ. Trước giờ nổ súng anh vinh dự kết nạp Đảng. Vào đến nhà bạt không thấy địch, chỉ huy lệnh tiến tiếp, anh đề xuất mật phục tại chỗ. Địch quay về, ta đánh úp diệt gọn. Trận đầu thắng lớn, anh được đồng đội nể phục.

Năm 1970, anh được về phép 4 ngày ăn Tết. Sốt rét ác tính hành hạ, nhưng hết phép vẫn có mặt đúng giờ. Đơn vị hành quân thần tốc vào miền Đông Nam Bộ, anh là Thượng sỹ, Trung đội phó C2, D13, Đoàn 429. Sang Công Pông Chàm chặn “cuộc càn quét Đông Dương” của Mỹ – Ngụy. Trận Am Búp, sốt rét đến mức không cầm nổi bát cháo, anh vẫn xung phong. Cắt ba lớp rào bùng nhùng xen gai xấu hổ, có đoạn phải dùng răng cắn cho kịp giờ G 1h30 sáng. Anh tay không hạ lính gác, thu khẩu AR15, cùng đồng đội diệt 300 tên, riêng C2 diệt 120 tên. Anh được mời báo cáo trước lớp cán bộ trung cao cấp toàn Miền, nhận Huân chương Chiến công hạng Ba.

Ở Dầu Tiếng, anh nhận lệnh luồn sâu trinh sát Chiến đoàn 25 Ngụy. Vượt 12 hàng rào thì bị lộ, pháo sáng quét trắng. Anh nhảy vào thùng phi trống nấp trọn một ngày, 8 giờ tối mới thoát. Đồng đội tưởng anh hy sinh, gặp lại ôm nhau khóc. Hôm sau anh dẫn mũi chủ công thọc vào trung tâm chỉ huy, ném 4 trái thủ pháo làm địch hoảng loạn. Bị thương, máu ướt đầm người, anh vẫn lết qua nhiều lớp kẽm gai về hậu cứ. Trận này diệt 120 tên, anh lại được Huân chương Chiến công hạng Ba.

Ngày 4/4/1972, anh chỉ huy đơn vị vượt 12 hàng rào, chiến hào chống tăng đánh căn cứ Lai Khê do Sư đoàn 18 và 25 Ngụy giữ, diệt 100 tên. Đơn vị nhận Huân chương Chiến công hạng Hai, anh được tuyên dương anh hùng. Rồi Bến Cát, Kho Phước Vĩnh…

Ngày 25/4/1975, anh được điều làm Chính trị viên D13. Sau một ngày củng cố, đơn vị đánh trung tâm Ra đa Phú Lâm, Quận 6 để cắt liên lạc của Ngụy quyền. Ba ngày giằng co, 9h30 ngày 30/4/1975 ta làm chủ trận địa, vô hiệu hóa toàn bộ thông tin địch, góp phần giải phóng Sài Gòn. Anh nhận Huân chương Chiến công hạng Hai.

Tưởng được về quê chăm gia đình, cuối 1977 anh lại dẫn quân lên biên giới Tây Nam đánh Pôn Pốt. Hơn một năm cùng các đơn vị bạn giúp Campuchia thoát họa diệt chủng. Tháng 12/1978 về Bộ CHQS Cao Bằng thì chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra. Anh lại cùng đồng đội vừa đánh, vừa vận động dân “một tấc không đi, một ly không rời”.

49 năm binh nghiệp, 20 năm cầm súng, ông luồn sâu 131 căn cứ, đánh 23 trận lớn nhỏ, diệt gần 100 tên Mỹ, Ngụy. Nhà nước tặng 12 huân, huy chương. Hòa bình, ông làm Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh, Chủ tịch Hội CCB Cao Bằng, Đại biểu Quốc hội khóa VIII và XIII.

Từ cậu bé Tày nghèo ở Bản Giăn đến Đại tá, Anh hùng LLVTND, ông sống trọn lời cha: công tâm, hết lòng vì đồng đội, vì dân. Một đời “Một thời hoa lửa” để thế hệ sau noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn