Bài viết

Sự hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên qua lời kể của đồng chí Mã Thành Kính - thành viên trong đoàn đồng chí Phùng Chí Kiên

Sự hy sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên qua lời kể của đồng chí Mã Thành Kính - thành viên trong đoàn đồng chí Phùng Chí Kiên

Thái Nguyên07/04/2026đoàn xã Nghĩa Tá (đoàn xã Nghĩa Tá)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Về đồng chí Phùng Chí Kiên, trong một hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đoạn ghi(1): “Cuối năm 1941, sau khi để kế hoạch công tác cho đồng chí Tân Hồng và các cán bộ địa phương, đồng chí Phùng Chí Kiên quyết định kéo một bộ phận vũ trang đi qua Bắc Cạn để liên lạc với Cao Bằng. Cuộc hành quân vô cùng vất vả, hơn mười ngày chỉ ăn cơm khô và măng núi, lúc đi qua địa hạt Ngân Sơn thì bị đế quốc Pháp vây đánh. Anh Phùng Chí Kiên Ủy viên Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương, một quân nhân lỗi lạc, xuất thân từ trường Hoàng - Phố, một cán bộ lãnh đạo của Việt minh bị hi sinh trong trận phục kích... Cũng trong trận ấy, anh Huy người chỉ huy việc huấn luyện quân sự ở Bắc Sơn bị tử thương. Thực là một tang chung cho cả dân ta tộc! Bộ đội của các anh cuối cùng vẫn tiến được về Cao Bằng... (1). Đoàn chúng tôi gồm các cán bộ lão thành cách mạng cùng một số cán bộ thuộc câu lạc bộ hưu trí thành phố Thái Nguyên đang trên đường hành hương lên Pác Bó nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác Hồ kính yêu.Trong đoàn có trung tá Mã Thành Kính một đội viên du kích Bắc Sơn năm xưa, người đã từng được sống và chiến đấu với Phùng Chí Kiên, chứng kiến sự hi sinh của đồng chí, đã kể lại đôi nét sự kiện ấy trong kí ức của ông.Tháng 5 năm 1941 hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng ta họp tại Pác Bó. Sau khi họp xong, ban liên tỉnh Cao-Bắc-Lạng có nhiệm vụ tổ chức đưa số đại biểu Trung ương về xuôi. Đoàn đại biểu quan trọng này gồm có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Văn Thụ. Các anh Bế Sơn Cương, Duy Tiến tức Tràng và tôi được ban liên tỉnh chỉ định và được đồng chí bí thư trực tiếp giao nhiệm vụ. Nhiệm vụ chúng tôi là dẫn đường sao cho an toàn, trót lọt từ Pác Bó đến Bắc Sơn. Chúng tôi đã hoàn thành công việc được giao, sau khi làm xong nhiệm vụ tổ chúng tôi được cấp trên cho ở lại tham gia đội du kích Bắc Sơn chống khủng bố. Để bảo toàn lực lượng, sau một thời gian chiến đấu, một phần lực lượng của du kích Bắc Sơn được lệnh tạm rút. Bộ phận được tạm rút bấy giờ được chia làm hai ngả: Bộ phận ra biên giới do đồng chí Đặng Văn Cáp phụ trách đi ra phía Đồng Đăng. Còn bộ phận lên Cao Bằng do đồng chí Hà Khai Lạc dẫn đường, vì đồng chí Lạc mấy năm trước đi buôn trâu, buôn thuốc phiện đã khá quen thuộc đường đi lối lại vùng giáp ranh hai tỉnh Cao Bằng và Bắc Cạn. Bộ phận này có bẩy người gồm đồng chí Hà Khai Lạc, Phùng Chí Kiên, Huy tức Huy Còm, Duy Tiến tức Tràng, Quý, Bế Sơn Cương và tôi. Lúc này là tháng 8 năm 1941. Chúng tôi khởi hành từ khu du kích Bắc Sơn sang tới vùng Yến Lạc thuộc châu Na Rì đã phải mất ba đêm. Sáng ngày thứ tư, chúng tôi lên tới địa phận xã Văn Học, đã cách đồn Yến Lạc gần chục cây số. Tới đây, gặp một nhà ở lẻ ven rừng. Nhà ở trên một đám ruộng bậc thang. Nhà này vốn làm nghề nung ngói máng. Anh Hà Khai Lạc quen biết nhà này từ hồi đi lại buôn thuốc phiện. Chúng tôi lên nhà hỏi mua gạo, thức ăn và nấu nhờ bữa trưa. Cơm nước xong, chúng tôi còn nghỉ ngơi trên nhà. Đoàn có phân công nhau bố trí canh gác. Chưa kịp nghỉ ngơi, thì đã thấy một toán người đang đi vào đầu nhà. Đi cuối đám người này, anh Khai Lạc trông thấy viên chánh tổng trước đây đã quen biết. Trong tay hắn, chiếc gậy song uốn cong chỗ tay cầm thỉnh thoảng đưa lên quay vùn vụt. Rõ ràng điệu bộ hắn đang ra oai. Bước vào trước cửa nhà, hắn giở giọng: Chúng mày đi ăn cướp hả? Hắn hỏi lộ vẻ đầy hách dịch. - Thưa thầy, không giấu gì thầy, chúng tôi đi buôn ít thuốc phiện. Cũng đã khá lâu, nhân tiện qua đường tại vào đây... Hà Khai Lạc trả lời bình tĩnh, khá tự nhiên và cùng với tư thế sẵn sàng đối phó nếu hắn giở trò không bình thường. - Buôn với bán gì! Chúng mày đi làm cộng sản lại còn dám bịt mắt che tại bọn tao nữa hả? Hai mắt hắn như mắt cú vọ nhìn chòng chọc vào chúng tôi. Và hắn gân cổ lên, quát: “Nào, đứa nào có thẻ đứng sang một bên! Còn thằng nào không thẻ hãy đứng nguyên tại chỗ!” Vừa nói, chiếc ba toong trong tay hắn vừa chỉ chủ. Chúng tôi liếc nhìn nhau và rút tiền đưa hắn mấy chục. Hắn không cầm. Có thể hắn cũng muốn lấy tiền, nhưng cũng còn giữ sĩ diện trước đám hương dõng cùng bọn tay chân lau nhau. Bởi vai vế y đường đường một viên chánh tổng đương chức. Và, mặt khác quan trọng hơn, với y cái chính lúc này không phải mấy chục đông bạc, mặc dù lúc bấy giờ con trâu mộng mới sáu bảy đồng mà là mề đay, phẩm hàm thăng quan tiến chức, một khi nộp được cho viên Tây đồn Yến Lạc vài cái đầu cộng sản (!) Tôi đứng phía sau nghe cái giọng nó, đã điên tiết lên rồi. Tôi thò tay vào dưới áo. Nhưng lại sực nghĩ, súng lục không chắc nó gục tại chỗ. Tôi lẻn qua phía sau tới chỗ Quý. Khẩu của Quý súng thập-pò hoọc. Thấy tôi nháy mắt, anh Quý rút khẩu pò-hoọc nhằm thằng chánh tổng nổ luôn một viên. Nó đổ nhào lập tức nhưng không chết. Mũi súng hơi chúc xuống. Viên đạn không đúng rốn mà chỉ vào đũng quần. Hắn chỉ bị bay mất một hòn dái. Khi nổ súng, cả đám lau nhau dây máu ăn phần kia đều chạy toán loạn, mỗi đứa một ngả. Như vậy là từ lúc chúng tôi đi vào nhà này, hỏi thổi nhờ cơm trưa, thì đã có kẻ xấu nào đó trông thấy, và đi báo luôn chánh tổng. Còn người chủ nhà, kể cả con cái họ chúng tôi hoàn toàn không có gì ngờ vực. Sau khi xảy ra vụ đụng đầu, chúng tôi tiếp tục hành trình. Khi đã đi khuất vào rừng, chúng tôi dừng lại nhận định và bàn về hướng đi. Nếu đi đường Cao Môn-Bắc Khê ra Pác-slóa đoạn đường sẽ ngắn hơn. Nhưng hành trình đã bị lộ, có thể bị chặn đường. Sau đó giờ bản đồ ra xem xét, cân nhắc, thấy xuyên qua rừng già, lên hướng Bằng Khẩu, rồi theo quốc lộ 3 phụ ra Bel-le sẽ rẽ qua đường Khuổi-slẩu về trạm liên lạc của ban liên tỉnh là gần hơn cả. Cuối cùng cả đoàn nhất trí đi theo hướng này. Chúng tôi đi mất ba ngày xuyên qua những khu rừng già. Đây là những khu rừng có ranh giới của các châu Thạch-An (Cao Bằng) với hai châu Na Rì, Ngân Sơn (Bắc Cạn). Những khu rừng chúng tôi đi qua, có thể là chưa bao giờ có dấu chân người qua lại. Tối đến nghỉ lại dưới những gốc cây cổ thụ. Bên trên, tán lá cây che kín. Dưới gốc, lá khô dày tới hai ba gang. Vắt thì vô kể, đủ loại. Trước khi nghỉ lại chỗ nào, chúng tôi phải gạt, dọn, đốt sạch lá khô. Đốt lửa lên cho bớt hơi ẩm, hôi thối và cũng để xua ra xa các loại vắt, sâu bọ, côn trùng. Dọn dẹp xong chặt lá chuối rừng rải ra lót làm chỗ nằm. Có một đêm, gặp cơn gió, cành mục trên ngọn cây cao gẫy rơi xuống. Cành đã khô mục nên cũng không ai việc gì. Ngày thứ ba, chúng tôi đi gần hết một khu rừng già nữa, trông ra phía trước, thấy có bãi nương lúa của người Dao. Chúng tôi đoán, thế nào quanh gần đây, cũng có làng bản nào đó. Dự định, nếu thấy có xóm bản nào, sẽ vào hỏi kiếm mua gạo, thức ăn nấu bữa. Tiền nong còn mà đã ba ngày rồi chỉ ăn chuối rừng, củ mài với măng rừng. Thiếu chất bột cồn ruột quá. Nhiều người đã yếu sức. Khi đi ra khỏi bìa rừng, quả thật đã trông thấy một xóm nhỏ, khoảng mươi nóc nhà hơi rải rác. Bây giờ đã khoảng 5 giờ chiều. Chúng tôi bèn tìm lối vào xóm đó. Khi vào đến xóm, chúng tôi vào một nhà hỏi mua gạo. Thái độ người nhà biểu lộ lạnh nhạt, đề phòng, sợ sệt và xa lánh. Hỏi mua thứ gì đều nói không có. Trong khi đó chúng tôi thấy trên bếp lò một cái vạc đang luộc bánh chưng, “sừng bò” gì đó sôi sùng sục. Sau này chúng tôi mới biết họ luộc bánh để sáng mai đi chợ Bằng Khẩu. Thoảng cái, người nhà đã bỏ đi đâu hết. Chúng tôi ra cửa ngó qua các nhà khác, cũng đều vắng tanh. Như vậy là họ đã lánh chúng tôi ra ngoài rừng, trong đó có thể có kẻ nào đó, đã đi báo các nhà chức trách trong vùng. Sau này, chúng tôi được biết bấy giờ họ đã có người đi báo chánh mục Phiêng Nhượng, chỉ cách đấy vài cây số. Chúng tôi thấy tình thế thế này là gay rồi. Thế nhưng lúc này mọi người đều đang đói, gì thì gì phải có cái ăn đã. Chúng tôi quyết định cứ “mua” vắng mặt chủ nhà mỗi người một hai chiếc bánh hoặc “sùng bờ”. Chúng tôi để tiền trên bàn, lấy bát úp xuống phòng gió bay. Thế là đoàn tiếp tục đi ra khỏi xóm này trong đêm tối, theo hướng ra phía Bằng Khẩu. Thế là đoàn tiếp tục đi ra khỏi xóm này trong đêm tối, theo hướng ra phía Bằng Khẩu. Từ chỗ này còn cách đồn Châu úy Bằng Khẩu chừng tám, chín cây số, nếu tính theo đường chim bay cũng chỉ khoảng ba nghìn mét. Đồng chí Hà Khai Lạc còn nhớ mang máng, đi khỏi quãng này là ra Khuổi slưa. Ở đấy, có một nhà đồng chí Lạc đã từng quen biết từ mấy năm trước. Nhưng khi ra đến nơi, nhà ấy không còn ở đây nữa, đã đi nơi khác, chỉ còn vườn hoang ven đường. Không hiểu du cư, du canh hay bọn Pháp bắt đồn làng. Hà Khai Lạc nói: Nhà này không còn đây để hỏi đường nữa, ta quay lại vào rừng kiếm chỗ nào thuận tiện nghỉ ngơi thôi. Sáng mai, ban ngày, quan sát phương hướng mới được. Xa cách mấy năm rồi, anh Lạc không còn nhớ được chính xác. Đoàn đành quay trở lại, có đến hai, ba cây số mới tạt vào rừng tìm chỗ nghỉ. Từ chiều tối và cả đêm hôm ấy, trong khi chúng tôi loay hoay tìm đường đi vào chỗ nghỉ tạm trong đêm rừng thì bọn chánh mục và châu úy đã nhận được tin mật báo. Chúng đã thông sức huy động khá nhanh các hương dũng, tuần đinh, tuần trách cùng một số dân chúng trong đó có trà trộn một số mật thám chó săn phản động. Chúng lên bao vây, lùng sục khu vực chúng tôi đang luẩn quẩn phải trú chân lại. Sáng sớm hôm sau chúng tôi phát hiện hầu như các đỉnh núi cao quan sát được tầm xa, rộng, chúng đều đã bố trí những tay súng sành sỏi chốt trên đó. Và, trong khi đó chúng có những bộ phận tiến dần vào nơi chúng tôi đang ẩn náu. Đúng ra từ sáng sớm, bọn này đã truy tìm các dấu vết các lối đã đi chiều qua hôm trước của chúng tôi, tuy chúng tôi đều gạt lại cỏ gianh. Bọn họ vốn thạo nghề săn bắn, nên khá sành sỏi tìm dấu vết trên rừng rậm. Lúc này đã xế chiều. Chúng tôi phát hiện, và ngay lúc đó đã nghe tiếng chân lạo xạo của chúng tiến gần vào chỗ chúng tôi. Nhiệm vụ tôi được phân công trong cuộc hành trình là bảo vệ. Tôi nói với các đồng chí trong đoàn:“Nếu có sự gì xảy ra, chúng ta cứ đi xuôi xuống theo khe suối. Càng xuống thấp dễ tránh những luồng đạn...”. Vừa nói xong, đã nghe tiếng bọn chúng gọi nhau, hô hoán: “Đây rồi! Bọn nó đây rồi!...” Và, trong tích tắc, cũng nghe tiếng súng nổ liền! Thế là chúng tôi lui ngay xuống lòng khe cạn. Có thể vì thấy nhiều người cùng chạy theo một hướng, xét thấy không lợi chăng, không hiểu thế nào đồng chí Phùng Chí Kiên lại nhảy qua một bãi nương ót. Bọn nó nổ súng theo sau, một phát súng kíp “tài lống”. Anh Kiên bị trúng đạn, nhưng cũng mới bị thương nặng. Bọn chúng liền xúm vào lục lọi người anh. Chúng thu khẩu pò họoc, bản đồ và cả một số tiền (tiền Đông Dương) trong túi áo. Chúng trói chân tay và khiêng anh về đồn Châu úy Bằng Khẩu. Dù đã bị thương nặng, ngày đó người ta kể lại, anh vẫn tỉnh táo. Đêm hôm đó, nằm trong phòng giam, đồng chí vẫn tranh thủ tuyên truyền về cách mạng với anh em lính cơ, lính dõng. Ngồi ở nhà bên trên, viên châu úy Vi cũng nghe rõ tiếng nói của anh. Càng nghe càng thấy người cách mạng cộng sản nói có lí, có tình. Nhưng chính vì vậy, y càng thấy mình bị xúc phạm. Tới khuya, hắn gọi lính đến ra lệnh: “Vào lôi tên cộng sản ra chặt đầu đi! Ngày mai sẽ báo lên công sứ. Để nó sống cứ nói lải nhải mãi khó nghe quá...” Trong khi thất tán nhốn nháo, anh Bế Sơn Cương đã bị lạc đoàn. Anh tìm không gặp được đoàn, đã một mình luồn rừng về Cao Bằng. Mấy năm trước đó, anh đã vài ba lần đi vào Ngân Sơn buôn muối nên địa hình và hướng đi anh đã tìm được lối vượt đồn Châu úy ngay đêm hôm đó. Sau này chúng tôi mới được biết, trong khi không gặp được đoàn nữa, anh Sơn Cương đã tìm đường đi thẳng về trạm liên lạc của Ban liên tỉnh để kịp thời báo cáo sự cố đã xảy ra hôm trước. Được biết tin này, đồng chí Lã bí thư đã phái ngay đồng chí Long đi vào Ngân Sơn, để tìm hiểu nghe ngóng số phận của đoàn diễn biến ra sao. Từ trạm liên lạc của Ban liên tỉnh, đồng chí Long đã cải trang đi lẫn vào với những đoàn người đi buôn muối vào Bằng Khẩu. Đến lúc này, đoàn chỉ còn 5 người. Khi bọn chúng xúm vào bắt, lục lọi anh Phùng Chí Kiên, chúng tôi vẫn tiếp tục đi men theo một bãi nương lúa người Dao. Do không còn nắm được địa hình, gần như mất phương hướng, nên vẫn quanh quẩn chưa thoát bọn chúng đang bao vây lùng sục. Đêm hôm đó, đoàn vẫn còn nằm lại khu rừng này. Bọn chúng cũng không thể đoán biết được đoàn chúng tôi đã đi theo hướng nào. Về chiều đã gần tối, chúng tôi mới gặp được một lối, đường đi vào làng bản gì đó. Thế nhưng, mọi người đều đã mỏi mệt, chân không buồn nhấc nữa. Chúng tôi ngồi lại dưới một cây to. Lúc này trời đã không nhìn rõ mặt người. Đêm tôi, đói bụng, chúng tôi vẫn phải thay phiên nhau thức cảnh giới. Phần thì ngủ gà, nửa tỉnh nửa say.Đầu hôm hạ tuần trăng muộn cũng đã lên. Có cơn gió thổi đến nghe cành lá trên đầu lòa xòa. Khi trông lên, qua ánh trăng mơ lại thấy trên cành cây, cành nào cũng nhiều quả lư. Chúng tôi trèo lên cây, hóa ra là một cây lê rất sai quả. Vặt xuống mỗi người vài quả ngồi gọt vỏ. Đang đói, mỏi mệt lại hơi ngái ngủ, bỗng dưng được đánh bữa lê chín, no nê. Trời cũng đã gần sáng. Tiếng gà gáy xóm bản đầu đó, thỉnh thoảng vọng tới. Ăn xong, trèo lên vặt thêm mỗi người vài quả cho vào túi. Trời sáng. Chúng tôi rời chỗ tìm đường đi tiếp. Chúng tôi vừa đi khỏi một lúc, bọn chúng đã sục đến chỗ gốc cây lê. Chúng đã phát hiện dấu vết chỗ nghỉ, trước hết là những vô quả gọt ăn còn nguyên dưới gốc cây. Như vậy là chúng đã biết chắc chắn chúng tôi chưa đi khỏi khu vực này. Nhưng sáng sớm, có lẽ chúng chưa kịp tập họp lực lượng truy lùng. Trời đã hửng nắng, đứng trên một mô đất trông qua những lớp sương đang tan dần, chúng tôi đã thấy một vài quãng đường cái đi ra Bel-le. Nhưng, ban ngày thế này, không thể vượt qua đôi sang bên ấy, vẫn phải lui xuống trú chân lại. Tới khoảng mười hai giờ trưa, bọn chúng truy lùng gần đến chỗ chúng tôi. Những tên đi đầu đến chỗ chúng tôi vừa rời đi lúc sáng, nghe chúng gọi báo nhau: “Đây rồi! Chỗ ngồi nghỉ chúng nó đây rồi!” Bọn trên núi lại hỏi đáp xuống: “Xem chỗ chúng ngồi còn ấm không?” Chúng tôi hội ý: “Tình hình thế này lại không xong rồi. Chúng nó đã ở trên chúng ta!...” Chúng tôi quyết định đi theo khe suối. Tình thế này phải tìm lối để vượt sang phía bên kia quốc lộ 3 đi ra Bel-le thôi. Đồng chí Huy còm vốn sức yếu, đã mấy ngày không chất bột, xuyên rừng cực nhọc, vất vả, lại có phần yếu thêm. Trong khi đang gạt cây cỏ đi trong rừng rậm, anh Huy bị hụt chân rơi xuống hố sâu. Đó là những hố những năm trước đây, người ta đào vàng ở mỏ Khau Liêu cũ. Bọn chúng lần theo những vạt cỏ ngả xuống, đến miệng hố mất vết cỏ rạp. Chúng nghe ngóng, thấy tiếng động và tiếng người thở vọng lên từ dưới đáy hố sâu. Thế là ngày thứ hai, lại thêm anh Huy còm sa vào tay bọn giặc. Về sau này mới được biết, anh Huy bị chúng đưa đi giam và chết ở nhà pha Cao Bằng. Đến lúc này quân số của đoàn chỉ còn bốn người. Đó là các anh Quý, Duy Tiến, Khai Lạc và tôi. Chúng tôi theo khe đi xuống đến bìa rừng thì gặp một sườn đồi cỏ gianh, búi lau rậm rạp. Cả nhóm bò lên đồi, cuối cùng cũng lần ra giữa một đoạn đường ô tô đi ra Khau-mu. Trông từ xa, thấy thấp thoáng có ba bóng người đang đi vào phía chúng tôi. Khi đi tới một đoạn đường vòng chúng tôi leo lên bên trên đường đồi cỏ gianh. Ba tên này khi đến chỗ chúng tôi vừa rẽ lên thì chúng dừng lại nói với nhau gì đó bằng tiếng Dao. Và, một thằng trong bọn chúng rẽ lên chỗ chúng tôi đang đứng. Tình huống buộc chúng tôi phải nổ súng. Hắn ở thế thấp, viên đạn chỉ sượt qua trên đầu. Nghe súng nổ, bọn chúng kêu la cả ba cắm đầu chạy ra đường cái về phía Bằng Khẩu. Trong khi đó, chúng tôi trong sang sườn núi trước mặt, thấy một thằng cưỡi ngựa đi trước, có vài người chạy theo sau, đang lên quãng dốc sau Pù Mò. Chúng tôi dự tính, nếu ba tên này đến báo thằng đang đi ngựa lên dốc ngoài kia, chúng cùng kéo vào đây sẽ dùng nốt hai qua lựu đạn. Nhưng chúng không dám lên nữa. Nghe súng nổ, thấy mấy thằng hộc tốc chạy ra, thằng ngoài kia cũng giật cương ngựa quay đầu chạy xuống dốc. Sau này chúng tôi được biết, thằng cưỡi ngựa đó là châu úy Vi. Y cũng đang toan tính đi kiếm thêm vài cái đầu cách mạng để mau thăng chức. Mới nghe một tiếng súng, đã vội vã chạy về nha đường dinh thự.Lúc này chúng tôi đã đi theo đường cái ra Khau Mu. Xuống hết một đoạn dốc, chỗ này còn cách đèo Bel-le khoảng chục cây số, chúng tôi gặp một đoàn người đi buôn muối.👀 Tôi trông thấy anh Long đi trong đoàn người đó. Anh Long là người ở trạm liên lạc được Ban liên tỉnh phải đi làm nhiệm vụ như đã nói phần trên. Trông thấy nhau, hai bên chỉ nháy mắt ra hiệu chào nhau. Bởi vì. trong đoàn người đó, có cả xã đoàn Cửu đương chức. Khi thấy chúng tôi, hắn đã nói với người trong đoàn đi buôn muối:“Ai dám báo cho quan trên bắt được những người này sẽ được công to”. Lập tức cũng có người trong đoàn đốp chát luôn với hắn: “Cái đầu của anh muốn rơi hả? Anh còn muốn gia đình vợ con được sống yên ổn làm ăn không?” Hắn câm mồm. Chúng tôi đi tiếp tới chỗ rẽ không gặp sự gì. Sau khi rẽ xuống đường ra Khuổi-slẩu, chúng tôi mới mở cơm nắm. Thức ăn gói thì thịt xào, gói thì trứng hoặc cá rán. Vừa đói lại vừa thoát những cơn nguy hiểm, nên bữa cơm nắm dù nguội mà rất ngon lành. Ăn xong nghỉ ngơi một lúc, trời đã gần tối. Chúng tôi lại đi tiếp. Đi được một quãng lại bị lạc vào một nhà người Dao. Chó cắn ầm ĩ lại phải quay trở lại. Bụng không còn đói nhưng ai cũng mỏi mệt, tạt lên trên đường định nghỉ lại. Đang thu xếp chỗ nghỉ, lại nghe tiếng người qua dưới đường. Thì ra số anh em buôn muối đã quay trở về. Bởi vì, do có sự kiện hôm qua trên Khau-pàn, lí dịch địa phương cấm không cho người lạ mặt được nghỉ lại Bằng Khẩu. Cho nên đêm tối anh em cũng phải trở về. Trong đoàn người ấy, có anh Long cũng dân cùng quay trở lại. Anh đi nhanh, có ý cố đuổi kịp chúng tôi. Nhưng, chúng tôi nằm nghỉ bên đường nên không biết. Sáng ra, chúng tôi dậy đi đến quán hàng Khuổi-slẩu. Hàng quán này cũng mới được dựng do nhu cầu những người đi buôn muối qua lại. Xuống gần tới hàng quán, nghe có tiếng nói ồn ào. Chúng tôi cử một người đi xuống trước thăm dò. Thì ra đều là những người đi mua muối quay trở về. Họ đang ngồi kháo chuyện với nhau về vụ hôm kia và hôm qua của đoàn chúng tôi. Họ còn kháo chuyện rằng: viên Châu úy Vi suýt toi mạng chỉ vì dốt nát kỹ thuật súng ống. Khẩu Pò-hoọc của đồng chí Phùng Chí Kiên y đã đem ra tý toáy thế nào nổ bòm một phát suýt trúng vào đầu. Sau khi chúng tôi được gặp anh Long, thật mừng quá. Chúng tôi vẫn còn tiền, mời nhau vào quán ăn bánh. Nghe qua chúng tôi kể lại sự vất vả cuộc hành trình anh Long nêu kế hoạch để đi về trạm liên lạc của Ban liên tỉnh. Anh vận động anh chị em trong đoàn đi buôn muối để chúng tôi cải trang đi lẫn vào với đoàn. Người cho mượn cái nón, người đưa cái túi hoặc đòn gánh để chúng tôi trà trộn đi cùng. Đi khỏi đoạn đường cái, anh Long mới thu lại các thứ trả anh em. Sau đó anh dẫn chúng tôi vượt qua quãng đường ô tô Nguyên-Bình và đi vào một quãng nữa mới dừng lại chờ đợi trong một đám rừng xau xau. Anh Long vào trạm trước gặp đồng chí thường trực ban liên tỉnh và báo bộ phận nhà bếp thu xếp cơm nước cho chúng tôi. Khi anh quay trở ra đón chúng tôi vào tới trạm thì nhà đã lên đèn. Chúng tôi nghỉ ngơi một tuần ở trạm liên lạc bồi dưỡng lại sức khỏe. Sau đó chúng tôi được lên Pác-Bó báo cáo Ông Cụ về sự tổn thất trong cuộc hành trình. Hôm ấy Ông Cụ đang bận nhiều việc. Ông Cụ cử đồng chí Vũ Anh tiếp và nghe chúng tôi báo cáo. Và, sau đó chúng tôi được đồng chí Vũ Anh cho biết, hôm đồng chí báo cáo lại tin này với Ông Cụ, Bác đã không cầm được nước mắt vì nỗi thương tiếc đồng chí Phùng Chí Kiên là một cán bộ có tài năng, kiên cường của Đảng. Bác cũng rất đau lòng thương tiếc đồng chí Huy bị địch bắt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn