Tài năng và nhân cách lớn của nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Văn Tố
Nguyễn Văn Tố – Nhà chí sĩ yêu nước, học giả uyên bác và nhân cách lớn
Nguyễn Văn Tố (1889–1947), hiệu Ứng Hòe, xuất thân trong một gia đình Nho học ở Hà Nội. Từ nhỏ, ông được đào tạo Hán Nôm, sớm hình thành vốn kiến thức sâu rộng về lịch sử và văn hóa dân tộc. Sau đó, ông học tiếng Pháp, tốt nghiệp Trường Thông ngôn và làm việc tại Học viện Viễn Đông Bác cổ. Là một trí thức thuộc thế hệ giao thời giữa Nho học và Tây học, Nguyễn Văn Tố đã thể hiện năng lực nổi bật, trở thành một trong những học giả có uy tín của Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Trong quá trình nghiên cứu, Nguyễn Văn Tố dành nhiều tâm huyết cho việc tìm hiểu và tôn vinh lịch sử, văn hóa Việt Nam. Ông viết, dịch, biên tập và hiệu đính nhiều tài liệu có giá trị; đồng thời cộng tác với nhiều tờ báo bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Các công trình nghiên cứu về lịch sử, khảo cổ, văn học, ngôn ngữ của ông được thực hiện công phu, đối chiếu nhiều nguồn tư liệu và tranh luận khoa học với các học giả nước ngoài. Qua đó, ông góp phần khẳng định giá trị của văn hóa dân tộc trong bối cảnh đất nước chịu sự áp bức về chính trị và văn hóa.
Không chỉ là một học giả, Nguyễn Văn Tố còn tích cực tham gia các phong trào yêu nước và hoạt động xã hội. Năm 1938, ông được tín nhiệm làm Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ. Với uy tín, trí tuệ và khả năng tổ chức, ông cùng các cộng sự xây dựng phong trào phát triển rộng khắp cả nước. Hội mở các lớp học, xuất bản sách và lập thư viện bình dân, góp phần đưa kiến thức đến với đông đảo nhân dân, đặc biệt là những người chưa biết chữ.
Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Văn Tố, trong nhiều năm hoạt động, Hội Truyền bá Quốc ngữ đã xóa mù chữ cho hàng vạn người, góp phần nâng cao dân trí và khơi dậy tinh thần yêu nước. Ông không chỉ có tài năng tổ chức mà còn có cách ứng xử khéo léo, mềm dẻo nhưng kiên định. Trước những ý đồ mua chuộc, lợi dụng của chính quyền thực dân, ông luôn giữ vững nguyên tắc hoạt động độc lập của Hội. Chính sự thông minh, bản lĩnh và uy tín của ông đã giúp phong trào vượt qua nhiều khó khăn, thu hút đông đảo trí thức và quần chúng tham gia.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tài năng và lòng yêu nước của Nguyễn Văn Tố được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao trọng trách Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội, trực tiếp tham gia giải quyết những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng, trong đó có chống giặc đói và giặc dốt. Ông chủ động chuyển những kinh nghiệm, cơ sở và nguồn lực của Hội Truyền bá Quốc ngữ sang ngành Bình dân học vụ, góp phần thúc đẩy phong trào xóa nạn mù chữ. Trong thời gian ngắn, phong trào đã đạt kết quả lớn, với hơn hai triệu người được xóa mù chữ.
Tháng 1/1946, Nguyễn Văn Tố trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I. Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội ngày 2/3/1946, ông được bầu làm Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, chức danh tương đương Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cương vị này, ông góp phần củng cố chính quyền, xây dựng nền dân chủ, tăng cường đoàn kết dân tộc và giải quyết nhiều vấn đề đối nội, đối ngoại quan trọng. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông lên chiến khu, tiếp tục hoạt động với tư cách Bộ trưởng không Bộ.
Cuối năm 1947, Nguyễn Văn Tố bị quân Pháp bắt tại Bắc Kạn. Dù bị dụ dỗ, mua chuộc và tra tấn hết sức tàn bạo, ông vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục trước kẻ thù và cuối cùng hy sinh. Cuộc đời Nguyễn Văn Tố là sự kết hợp giữa tài năng của một học giả, lòng yêu nước của một chí sĩ và trách nhiệm của một người trí thức trước vận mệnh dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá ông bằng những lời trân trọng: “Ngàn thu sẽ vẻ vang, bất diệt”. Tấm gương Nguyễn Văn Tố vì thế trở thành biểu tượng đẹp về trí thức Việt Nam giàu lòng yêu nước, có nhân cách lớn và hết lòng phụng sự đất nước.



