Bài viết

Tạm biệt Rừng già

Nói chung đời chiến trận của chúng tôi không có Tết. Thời gian được biểu hiện bằng rừng và không gian cũng biểu hiện bằng rừng. Sáng rừng, trưa rừng, chiều rừng, tối cũng rừng. Mùa khô, rừng, mùa mưa, rừng, và Tết cũng rừng nốt. Màu xanh miên man bất tận của rừng đã đốt cháy mọi khái niệm cơ bản.

Hà Tĩnh10/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nói chung đời chiến trận của chúng tôi không có Tết.

Thời gian được biểu hiện bằng rừng và không gian cũng biểu hiện bằng rừng. Sáng rừng, trưa rừng, chiều rừng, tối cũng rừng. Mùa khô, rừng, mùa mưa, rừng, và Tết cũng rừng nốt. Màu xanh miên man bất tận của rừng đã đốt cháy mọi khái niệm cơ bản. Người lính chỉ cần đến năm thứ hai nếu không ngã xuống thì mọi suy nghĩ hồi tưởng về gia đình, cha mẹ, người yêu, quê quán, giỗ Tết, sinh nhật, xuân hạ thu đông… đều bị khói lửa chiến chinh mù mịt xóa nhòa đi. Khi đó chỉ còn lại một khát vọng độc tôn là sống, ráng mà sống để còn có dịp được trở về gặp lại người thân. Thế thôi.

Minh họa: Trần Từ Thành

Nhưng những cột mốc thời gian đó vẫn duy trì những tín hiệu tự nhiên của nó. Trong đội hình chủ lực ngàn ngạt những binh đoàn đàn ông trai tráng, Tết được biểu hiện bằng một hơi thở mơ hồ, lạ lắm thổi dọc suốt các cánh rừng, như hơi thở của mùa xuân mà lại không phải mùa xuân, bỗng chỉ thấy lòng rạo rực một nỗi bâng khuâng khó tả. Và đêm về, vật mình trên võng, chụm đầu nghe đài mới thảng thốt hay rằng đất trời đã vào xuân, hậu phương xa ngái đang chuẩn bị đón Tết trong tiếng ngâm thơ nghe có thể trào nước mắt của chị Trần Thị Tuyết: “Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ/ Đất anh hùng của thế kỷ hai mươi…”.

Tạm từ giã rừng già bám xuống vùng sâu giáp ranh với kẻ thù, cận kề với bà con, Tết lại được biểu hiện rõ nét hơn bằng mùi nhang khói, bằng những thỏi bánh tét, gói thuốc, can đầu heo ngâm củ kiệu từ trong ấp do các em mang ra, lận trong quần áo trinh nữ mà đem ra. Chao ôi, đêm trừ tịch ngồi trong cứ, ngậm điếu thuốc của em mà như có cả mùi da thịt thảo thơm con gái ướp vào đến ma mị, đến chao chênh cả ruột gan. Lúc ấy mới nhớ nhà, nhớ quê đến thao thiết và tất nhiên cồn cào nhớ cả nụ hôn vội vàng, ẩm ướt của em trên sân ga Hàng Cỏ một chiều tạm biệt đi xa.

Nhưng lại có một cái Tết không thể quên được trên mảnh đất trải dài bóng cây thốt nốt phía bên kia đường biên. Cái mảnh đất hiền hòa mà vào những khoảnh khắc hiểm nghèo sau Mậu Thân 1968, các binh đoàn chủ lực, trong đó có “Công trường 5” của chúng tôi đã buộc phải ghé chân qua tá túc đặng bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ lại đổ về đất Mẹ đau thương.

Hôm ấy, nhằm ngày Ba mươi Tết, thì cũng là thì thầm nói vào tai nhau như vậy chứ đất nước Ăng-co này đã đến Tết đâu, chúng tôi bắt đầu hành quân. Ôi chao là những con đường trải nhựa xuyên dọc Kông Pông Chàm, Kông Pông Chư-năng… những con đường đã làm phồng rộp hai bàn chân khi người lính Việt Nam mấy năm nay chỉ quen giẫm lên đường rừng dịu mát. Đến nơi, trong một phum yên hòa không có mùi súng đạn, diêm sinh, đồng chí trung đoàn trưởng cứ dặn đi dặn lại là, sang đây các đồng chí phải tiếp tục phát huy phẩm chất Anh bộ đội Cụ Hồ theo lời thề thứ 9, là tuyệt đối không được xâm phạm đến cái kim sợi chỉ của dân để giữ hình ảnh người lính cách mạng Việt Nam trước bà con nước bạn…

Thì giữ nhưng cũng chả cần phải giữ gì khi ráo trọi những thứ đó đã ăn vào máu những chiến binh Cộng sản rồi. Vì thế mà ở giữa phum sóc, ở giữa nhà dân, bữa cơm của chúng tôi vẫn vô cùng đạm bạc với muối cục trộn cùng hạt tiêu, tý canh rau tàu bay lõng bõng hái được trên đường, hết. Đang sức trai, cơm không có chất, càng ăn càng đói. Đói đến nỗi nhìn vườn chuối dưới sân đang mùa bói quả mọng căng chín rộm mà chỉ còn cách nuốt nước miếng ừng ực rồi ôm nhau đi nằm để sáng mai chờ nhận nhiệm vụ.

Nhưng lạ quá, trong im ắng mênh mông, chúng tôi bỗng nghe được những tiếng nhai nhóp nhép ở đâu đây, tiếng nhai mỗi lúc mỗi khuếch đại như bào như xé vào ruột gan, rõ ra là những tiếng nhai của hàm răng ngoạm ngập vào thịt chuối. Chết cha rồi, chúng tôi bấm nhau, có đứa nào không nghe lời trung đoàn trưởng dặn rồi, đang đêm dám trở dậy ra vườn gặm chuối của dân. Rồi lén bảo nhau dậy, khẽ chân theo cầu thang gỗ đi xuống xem thằng nào mà to gan lớn mật, mà nỡ làm cái trò con sâu bỏ rầu nồi canh, nó mà lộ ra thì chẳng còn mặt mũi quân tình nguyện anh hùng gì nữa.

Nhưng trời ạ, mò đến nơi, dưới ánh đèn pin trinh sát, tịnh không thấy một thằng người nào mà chỉ toàn là lợn, lợn to lợn nhỏ lúc nhúc đang thi nhau vươn mõm lên cắn giật từng buồng từng nải xuống ngoạm nhai rồn rột. Chợt nhìn nhau té ngửa, thì ra chuối ở đây không dành cho người mà chỉ là thức ăn cho loài lợn, vậy mà từ tối đến giờ cứ phải bấm bụng nuốt nước bọt khan đến cháy cả cổ.

Một cậu biết trọ trẹ vài tiếng Cam-pu-chia vội tìm tới ông chủ nhà đang ngồi bập thuốc rê bên bếp lửa có ý muốn mua vài nải cho bộ đội ăn. Ông chủ nhà tròn mắt, bà chủ nhà mắt còn tròn hơn, riêng cô con gái có đường hông căng nhức trong lần vải xà-rông là chỉ mủm mỉm cười, khỉ, cái kiểu cười này có thể hạ gục được cả một binh đoàn quân tinh nhuệ chưa chừng, rồi nói, tất nhiên bằng tiếng thổ ngữ do cậu trọ trẹ kia dịch lại có vẻ cháo chảy lắm nhưng chả biết đúng được bao nhiêu phần trăm “Mua gì, con top (bộ đội) Việt Nam cứ lấy ăn thỏa thích đi mà, ăn càng nhiều chúng tôi càng vui cái bụng mà”.

Được lời như cởi tấm lòng, thế là cha con cả ngàn ngày chưa biết mùi chuối là gì vội bê lên nhà cả buồng cả nải và chỉ nhoáng cái là hết, còn nhanh hơn cả đàn lợn dưới kia, ăn xong thằng nào thằng ấy nằm phưỡn cái bụng núng nính như đàn bà có chửa 7 tháng ra bảo “đã quá, bây giờ chết được rồi, coi như chúng mình đã tắc lẻm xong bữa cỗ đêm Ba mươi, cỗ chuối nơi đất nước láng giềng”.

Chưa hết. Sáng hôm sau, cô gái con chủ nhà có cái đường hông căng nhức ấy đến, vẫn mỉm cười, vừa nói líu lô vừa ra ký hiệu tay như làn điệu múa Áp-sa-ra như ý nói: “Con top ơi, mẹ bảo con top Việt Nam ăn cực quá, sáng nay mời tất cả xuống ăn cơm với gia đình cho vui!”. Nhìn nhau: Nhưng có phạm vào lời thề không nhỉ? Phạm gì, anh trung đội trưởng khoát tay, chấp nhận, bà con có lòng mời mà mình lắc mới phạm vào quan hệ quân dân. Thì ăn.

Đúng là một bữa cơm trên thượng giới có nằm mơ cũng không ra. Bao năm trời, đang ăn toàn những gạo hẩm gạo mốc trong kho, thực phẩm không có gì ngoài ít muối tiêu trệu trạo nhai với trái vả đắng nghét, thèm rau đến nỗi gặp một vạt dền gai mọc bên sông, tất cả vội ào xuống ngắt nhổ đưa lên miệng nhai sồn sột, mát đến tận ruột gan, sướng quá, cười, răng miệng thằng nào cũng nhòe máu bây giờ lại được ăn cơm gạo thơm với cá sấy Biển Hồ Tông-lê Sáp, có đệm thêm những trái dưa leo ngọt mọng thỏa lòng mong ước bấy lâu thì lại… cũng có thể chết được rồi. Coi như đây là bữa ăn sáng mồng Một theo phong tục quê nhà chỉ thiếu hương khói bảng lảng trên bàn thờ tổ tiên, nhưng bù vào lại có ánh mắt cô gái mang nước da nâu giòn cứ nhìn anh bộ đội Việt Nam vừa tò mò vừa ắp đầy nữ tính.

No bụng, rủ nhau đi thăm bà con, bỗng nôn nao nhớ nhà. Có lẽ người lính chỉ nhớ về những điều đã xa khi năm hết Tết đến, rằng lúc này chắc mẹ đang tựa cửa chờ con, rằng cô người yêu có nụ hôn ẩm ướt không hiểu có chờ đợi được không hay lại… ẩm ướt với người khác rồi? Tất nhiên thôi, có người yêu đẹp để lại có khác gì cái xe đạp để ngay Bờ Hồ không khóa, mất là cái chắc.

Vẫn chưa hết. Buổi chiều, thấy chó má chạy đầy đường, con nào con nấy béo thù lù, óng mượt. Một cậu bật nói: “Này, hay là nhân dịp Tết, ta vào dân hỏi mua một chú cún về nấu nhựa mận đi!”.

Lần này thì tất cả đồng ý ngay. Mới có đồng ý thôi mà nước miếng đã muốn tứa ra rồi. Khổ! Từ ngày vào rừng đến giờ nào có biết mùi thịt chó là gì đâu. Nhưng cũng giống như tối qua, ông chủ vẫn tròn mắt, bà chủ còn tròn mắt hơn và cả cô con gái cũng tròn mắt nốt: “Chó? Chó à? Con top Việt Nam muốn ăn cái con chó thật à?”. Đồng thanh gật đầu. “Thì bắt mà ăn đi, ăn bao nhiêu cũng được, ăn cho bà con xem”.

Đúng là “ăn cho bà con xem” thật. Mâm thịt chó gồm đủ nướng, luộc, dồi, nhựa mận, xáo… được mang ra thì lập tức các ô cửa sổ đã lố nhố những khuôn mặt trẻ em, người già, phụ nữ háo hức nhìn vào rồi. Trong đó có cả cái nhìn của “căng nhức”.

Một cậu vốn là sinh viên có vẻ am hiểu dân tộc học, nói: “Dân Cam-pu-chia khác dân Hàn Quốc, họ kiêng thịt chó như dân đạo Hồi kiêng thịt bò, họ không ăn bao giờ”. Kiêng à? Sao phí thế nhỉ, thảo nào chó má cứ chạy rông đầy đường. Vậy, xin phép bà con nhé, dân tộc chúng tôi không kiêng, con top Việt Nam phải ăn con chó để lấy sức đánh Mỹ đường dài, xin mời Phrochiachuân! Thế là vùi đầu vào ăn, ăn như tử tù trước khi ra pháp trường, ăn một lần cho mãi mãi… vèo một cái đã đánh bay chú chó hơn chục cân cả xương lẫn da, mặc cho những con mắt ngoài kia vẫn cứ nhướng lên, thậm chí có cả tiếng nhổ nước miếng phèo phèo, nhổ vì lạ, vì kỳ, vì ghê ghê, vì chưa thấy bao giờ chứ không mang hàm ý gì khác.

Bởi sau bữa cỗ thịt chó ê hề ngon không chịu được chiều mồng Một ấy, đến sáng mồng Hai, vừa tỉnh dậy, trời đất quỷ thần ơi, trước mắt chúng tôi là cả một sân toàn chó, dễ phải đến vài chục con. Cô gái chủ nhà lúc này đã thay một chiếc áo mới, mỉm cười ra hiệu: “Của bà con dẫn đến cho con top Việt Nam đấy, đủ chưa, thiếu, dắt nữa”. Nghe mà tá hỏa tam tinh, kiểu này không khéo sẽ trở thành cánh lái chó mất. Rối rít cám ơn, rối rít gật đầu nhưng đêm đó lén thả từng chú ra đường, chỉ giữ lại một chú cho bữa mồng Ba Tết, bữa cuối cùng để rồi sau đó sẽ tạm biệt bà con, tạm biệt cô gái có dáng người căng nhức cho con top Việt Nam tiếp tục hành quân về phía kẻ thù.

Xin cám ơn mảnh đất có ngàn cây thốt nốt, xin cám ơn những tấm lòng thuần hậu của bà con xứ sở Ăng-co, xin cám ơn cả cô gái có nước da nâu giòn đã cho bộ đội Việt Nam, con top Việt Nam một cái Tết ấm cúng khi xa nhà.

Dẫu rằng (xin ngoặc đơn) sau này có dịp trở lại, mới biết các chú chó đã trở thành một thứ thực phẩm phổ biến và quý hiếm của người dân. Xin cám ơn cả điều này!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn