tấm gương anh hùng dũng cảm Cù Chính Lan
Cù Chính Lan (1930–1951) là một trong bảy chiến sĩ đầu tiên được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân của Việt Nam. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An).Năm 1945, Cù Chính Lan tham gia đội du kích xã, bắt đầu con đường hoạt động cách mạng từ rất trẻ. Khi Pháp trở lại xâm lược vào năm 1946, khi mới 16 tuổi, ông đã xin gia nhập Vệ quốc đoàn, quyết tâm đứng vào hàng ngũ những người cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Trong môi trường kháng chiến đầy khó khăn và thử thách này, ông được rèn luyện nên khí chất anh hùng, trở thành người gan dạ, dũng cảm, mưu trí, đồng thời luôn biết quan sát, học hỏi và phối hợp linh hoạt trong tác chiến.
Ông trở thành chiến sĩ liên lạc, sau đó dần được thăng chức tiểu đội trưởng bộ binh. Trong quá trình chiến đấu, ông luôn được đồng đội nhận xét là dũng cảm, táo bạo, mưu trí trong chiến đấu, xung phong nhận những nhiệm vụ khó khăn nhất. Năm 1948, Cù Chính Lan chuyển sang đơn vị chiến đấu làm tiểu đội trưởng liên lạc, lập nhiều công xuất sắc.
Cùng năm, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và nhanh chóng nổi tiếng khắp Đại đoàn 304 nhờ chiến công đặc biệt: “Tay không bắt giặc”. Trong chiến công này, ông đã bắt sống một binh sĩ Pháp bằng một con dao cùn và thu được một khẩu tiểu liên, được tặng chiến công hạng nhì. Chi tiết nổi bật: trong một lần đi công tác, ông thấy một đơn vị đang chiến đấu và xin tham gia cùng họ. Khi vũ khí tự túc, ông có sẵn một con dao trong tay. Nhờ khôn khéo nắm thời cơ, ông đuổi theo tên giặc vác tiểu liên, vừa đuổi vừa vung dao và la hét, khiến tên địch hoảng sợ đến mức cuối cùng bị giật mất súng.
Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp mở rộng cuộc tấn công vùng tự do ở Hòa Bình (nay là Phú Thọ) với âm mưu nối lại hành lang Đông – Tây, cắt đứt liên lạc giữa Việt Bắc và các khu 3,4, đồng thời thực hiện âm mưu thành lập “Xứ Mường tự trị” để chia rẽ và phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chiếm ưu thế trên chiến trường.Trước tình hình đó, Trung ương Đảng chỉ thị đánh Hòa Bình trên hai mặt trận, đồng thời tấn công lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy mở Chiến dịch Hòa Bình, sử dụng ba đại đoàn 306, 304, 312 tham gia. Với nhiệm vụ vây hãm và tiêu diệt giặc ở Hòa Bình, hai đại đoàn 320, 316 phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương phá “bình định” trong trận Giang Mỗ lần 1, ngày 7/12/1951. Khi trận địa bị lộ và địch bắn dữ dội, lệnh rút lui tạm thời được ban ra, anh hùng Cù Chính Lan dũng cảm đi sau, bắn kiềm chế địch để bảo vệ đồng đội rút lui an toàn, rồi quay lại cứu đồng chí bị thương, khiến tinh thần đơn vị được củng cố giữa lửa đạn.
Ngày 13 tháng 12 năm 1951, đơn vị bố trí phục kích quân Pháp lần 2 tại Giang Mỗ. Bất ngờ, một xe tăng Pháp tiếp viện xuất hiện, gây nhiều thương vong cho lực lượng ta. Trong tình huống nguy hiểm, Cù Chính Lan xông lên, nhảy lên xe tăng, cố gắng kề tiểu liên vào khe hở trên xe để bắn, nhưng không may tiểu liên bị hóc. Chiếc xe vẫn vừa chạy vừa bắn, tạo áp lực kinh hoàng. Không để tình hình làm chậm bước, ông hô đồng đội tập trung nạp đạn cho mình, rồi nhanh nhẹn nhảy lên xe, giật nắp và ném lựu đạn vào bên trong, khiến kíp lái Pháp hoảng hốt, giật mình, hỗn loạn hoàn toàn. Cảnh tượng quân Pháp sợ hãi, tháo chạy, và mất khả năng chiến đấu, thể hiện rõ sức mạnh tinh thần và mưu trí phi thường của người lính trẻ.
Với chiến công xuất sắc này, Cù Chính Lan được tặng Quân chương Hạng 3 và danh hiệu Anh hùng “Đánh xe tăng”, từ đây trở thành Anh hùng Đường số 6 lẫy lừng, để lại tấm gương sáng về dũng cảm, mưu trí và tinh thần xung phong, truyền cảm hứng cho các thế hệ sau noi theo.



