Cựu chiến binh

Tám ngày sinh tử

Hải Phòng12/01/2026Phùng Thị Thanh Hương (Đoàn phường Lưu Kiếm)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chúng tôi đã đánh nhiều cứ điểm của địch, nhưng đều theo cách “xuất quỷ, nhập thần” của đặc công. Còn cường tập, lấy yếu tố bất ngờ của kĩ thuật đặc công, sử dụng hiệu quả tối đa hỏa lực bộ binh được trang bị, đánh gần, tấn công áp đảo, tiêu diệt địch nhanh thì đây là lần đầu.

Tôi cho anh em thu dọn chiến trường và cho trinh sát tim bắt liên lạc với mũi 1 để hội quân theo hợp đồng chiến đấu. Hai cánh quân của chúng tôi gặp nhau ở làng Phước Lộc theo đúng kế hoạch.

Khoảng 6 giờ sáng hôm sau, bọn địch dùng trực thăng đổ toán quân đầu tiên ở cánh đồng đầu làng. Trên đầu, bầy trực thăng vẫn thi nhau quần đảo sàn sạt nã súng máy, rốc két vào các lùm tre, bụi rậm. Những tràng đạn cắm xuống phầm phập, mặt đất bị cày tung tóe như trận mưa rào xối xuống sân đất khô. Khói bụi mù mịt. Hơn nửa ngày dùng bộ binh kết hợp hỏa lực trên không tấn công nhưng không tiêu diệt được đối phương, đến quá trưa, chúng điều động thêm xe tăng, xe thiết giáp làm lá chắn tấn công trực diện vào trận địa ta. Đánh nhau gần một ngày không có kết quả, chúng thay đổi chiến thuật. Chiều hôm đó, chúng đổ thêm quân, dàn trận hình thành vòng vây quân ta. Trên không, một chiếc đầm già (L19) xuất hiện, vọng xuống giọng nói vừa dụ dỗ, vừa đe dọa. “Hỡi anh em cán binh công trường 30 (bí danh của tiểu đoàn 14), các anh em đã bị quân lực VNCH và đồng minh bao vây và sẽ bị tiêu diệt. Nếu các anh em hạ vũ khí đầu hàng, các anh sẽ được tha mạng sống và được đối xử tử tế”. Một cậu lính trẻ ngồi ở đoạn hào công sự bên cạnh tôi chổng ngược nòng súng về phía nó nhả mấy loạt đạn: “Mẹ mày, chiêu hồi nè, chiêu hồi nè”. Chiếc đầm già tắt tiếng vội vút lên cao rồi tản ra xa trận địa.

Mấy chiếc HU-1A lao vào nhả đạn, phóng rốc két xối xả.
Chiều tối, địch tạm ngừng tấn công.
Suốt ngày mồng 2 tết, địch dùng trực thăng, phi pháo oanh kích liên tục nhưng bộ binh không ồ ạt như hôm trước, mà chỉ là các mũi nhỏ lẻ, khiêu khích quân ta nổ súng. Chúng muốn dụ cho ta bắn hết đạn, sau đó mới tấn công áp đảo để tiêu diệt.

Xế chiều, một cuộc tấn công quy mô lớn được địch tổ chức nhưng vấp phải sự kháng cự kiên cường của ta.
Đạn sắp hết. Lương thực cũng vậy. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn quyết định, mở đường máu, phá vòng vây của địch để rút lui.
Đêm đầu tháng, trời tối đen như mực. Các tổ trinh sát của ta mò tìm đường ra. Bị lộ, địch nổ súng. Hỏa châu sáng rực. Đạn từ ổ đại liên của địch như một chiếc vòi phun lửa xé màn đêm. Hỏa lực địch bắn liên tục như tấm lưới thép đỏ rực rào chắn, không thể nào vượt qua được. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng đưa ra quyết định táo bạo: Tập trung hỏa lực còn lại tiêu diệt địch để mở đường. Khẩu DKZ chỉ còn lại mấy viên, bắn xuyên thẳng vào hướng ổ đại liên địch đang nhả đạn tạo thành mặt cắt mở vòng vây. B40, B41, tiểu liên AK bắn yểm trợ hai bên. Nhờ chiến thuật táo bạo đó, thương binh và phần lớn đơn vị thoát được ra. Nhưng ngay sau đó, hỏa lực của ta yếu, không đủ sức chế áp. Địch lập lại vòng vây.

Tổ chặn hậu của chúng tôi bị kẹt trong vòng vây ấy.
Một số anh em đã hi sinh. Tôi cũng đã bị thương. Chân phải nặng trịch không còn lê nổi. Tôi trườn, bò qua mấy bờ ruộng, không ngờ lạc vào giữa đội hình địch. Bên kia bờ ruộng là một toán địch phục kích. Gần lắm. Tôi nghe được tiếng xì xồ, xì xòa của bọn chúng. Khoảng năm, sáu tên. Tôi mò tay vào thắt lưng lôi quả US (lựu đạn M26), rút chốt an toàn, kim hỏa lựu đạn kêu tách. Tôi nhẩm đếm đến hai thì vung tay ném qua bên kia bờ ruộng, chỗ có tiếng động. Quả lựu đạn rơi nghe bịch, sau đó là tiếng nổ... Toán địch im bặt. Bọn còn lại nổ súng loạn xạ. Lợi dụng địch hoảng loạn, tôi bò về phía lũy tre rậm rạp bên bực bầu, cỏ lác rậm rạp. Băng vết thương, tôi tiếp tục vừa cố bò vừa ngụy trang. Vào được gần đến giữa lùm tre rậm thì trời sáng. Tôi quan sát xung quanh, tìm chỗ kín đáo ẩn mình. Suốt ngày hôm đó, địch sục sạo khắp nơi nhưng không phát hiện được nơi tôi ẩn náu.

Đêm xuống, tôi tiếp tục bò về hướng núi nhưng tốc độ quá chậm, mới đến giữa cánh đồng thì trời lại sáng nên buộc phải bò vào một ruộng lúa tương đối tốt để vùi mình. Tôi cố gượng, chọn tư thế nằm để vết thương ở chân không bị ngập trong nước. Cả người tê cóng. Tuy vết thương ở đùi đau buốt, nhưng đầu óc rất tỉnh táo. Nằm giấu mình trong ruộng lúa ở giữa cánh đồng mênh mông mới thấy cảm giác cô đơn, hoang vắng đến rợn người. Tôi hệ thống lại các sự việc diễn ra từ đầu chiến dịch đến giờ, nhất là thời gian từ cái đêm vượt vòng vây địch. Ruộng lúa cao chỉ quá bờ chừng ba bốn gang tay, nếu ngồi dậy sẽ ló phần đầu, tôi buộc phải đằm như một con trâu đẵm bùn. Do ngâm quá lâu trong bùn nước nên nửa phần thân thể lạnh tê cóng, nửa phần còn lại bỏng rát dưới ánh mặt trời thiêu đốt. Trong trạng thái chập chờn, mệt lả, tôi miên man suy nghĩ: Ừ, đã hai ngày đêm mình lạc đơn vị. Không biết bây giờ các anh em đã về đến căn cứ chưa? Ai còn, ai mất?

Đã năm ngày tôi chưa ăn một tí gì vào bụng. Không thể chết! Mình phải sống! Phải cố lên! Không được mềm yếu! Không được khuất phục! Tôi lẩm bẩm tự động viên mình rồi nghĩ, nếu chết, cần phải chết cho xứng đáng. Tôi sờ vào thắt lưng, chỉ còn một quả lựu đạn, khẩu K54 còn 4 viên. Giữa cái nắng nóng và nước lạnh, tôi thầm nghĩ, mình chẳng khác nào thỏi thép của bác thợ rèn, vừa nung trong lửa đỏ, vừa tôi trong nước lạnh. Gió lay sóng lúa xào xạc, những bông lúa vuốt ve, vỗ về như lời ru của mẹ làm tôi thiếp đi lúc nào không hay biết.

Chập chờn, tôi chợt thấy bóng phụ nữ tay dắt một bé gái ra tận cổng làng đón tôi. Bố! Tiếng lanh lảnh của bé gái làm tôi bừng tỉnh. Lạnh quá, tôi cố quan sát xem trên bờ ruộng có cỏ khô hay thứ gì đó che ấm thân. May quá, phía góc có một đống rơm. Thấy vắng vẻ, tôi cố bò đến và chui vào đó. Dễ chịu quá. Tôi lại thiếp đi.

Trong tư thế nằm nghiêng một bên tai áp xuống đất, tôi giật mình khi nghe tiếng bước chân người loạt soạt. Tôi tỉnh hẳn, tay để vào cò, khẽ khàng hướng mũi súng về phía tiếng động, nhướng mắt qua khe trống ổ rơm quan sát. Một cụ già. Cụ đi ngang qua chỗ tôi nằm với vẻ một người đi thăm ruộng, nhưng thỉnh thoảng lại liếc mắt vào đống rơm.

Khoảng xế chiều, tiếng bước chân người lại xuất hiện. Chẳng lẽ, cụ già lúc trưa đã phát hiện ra mình, giờ dẫn địch tới bắt để lãnh thưởng sao? Tôi ép tai xuống đất lắng nghe. Chỉ có tiếng đi của một người. Khi tiếng bước chân đến gần, tôi hé nhìn, hóa ra là một cháu gái khoảng 12, 13 tuổi. Lúc ngang qua đống rơm, một túm lá chuối rơi xuống gần chỗ tôi trong khi cháu vẫn đi thẳng.

Tôi thò tay rón rén nắm lấy túm lá chuối, lần mở ra. Trời ơi! Một túm bột đặc đã được nấu chín. Tôi nghẹn ngào. Vậy là cụ già, bà con đã biết mình nằm đây rồi ư? Và có lẽ, trong làng có địch nên bà con phải hành động bí mật. Tôi quan sát một lượt suy xét tìm nguyên nhân tại sao mình bị cụ già và cả em bé phát hiện.

Đây rồi! Cái chân.
Là cái chân tê cóng. Hóa ra khi tôi trườn lên vùi mình vào đống rơm, cái chân bị thương gần như không cảm giác, nên khi phủ rơm ngụy trang, nó bị bỏ quên bên ngoài. “Dấu đầu, lòi đuôi”. Tôi mỉm cười cho sự hớ hênh của mình. May mắn thay, những người phát hiện tôi chắc là quần chúng tốt, hoặc cơ sở cốt cán của ta. Nếu gặp người xấu thì nguy to rồi.

Tôi đưa túm bột vào miệng. Bột lạt, gần như không muối, không đường, vậy mà tôi ăn cảm thấy ngon lành. Mắt chợt rưng rưng, tôi thầm cảm ơn bà con đã cưu mang, đùm bọc, che chở bộ đội, che chở tôi trong lúc hoạn nạn.
Ba ngày sau, tôi mới bò về đến Cảnh Phước (Hòa Tân). Thật may mắn, các đồng chí mũi công tác xã Hòa Tân đã tìm được tôi đưa về hậu cứ sau tám ngày đêm lạc đơn vị.

Kể đến đây, anh im lặng nhìn ra mông lung. Khóe mắt rân rân nước. Giọng anh chợt nghẹn lại: Cho đến bây giờ, tôi cũng chưa có cách nào để biết danh tính những con người ấy để tỏ lòng ngưỡng mộ và nói lời tri ân họ. Những chuyện đó mãi mãi là kỉ niệm, suốt đời tôi không bao giờ quên về xóm Phường!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn