Anh hùng Lực lượng vũ trang

Thành cổ Quảng Trị

Thành cổ rộng, nhưng đồng đội tôi nằm chật.” Câu nói ấy của một cựu chiến binh khiến tôi lặng người. Trong 81 ngày đêm, thành cổ Quảng Trị hứng chịu hàng vạn tấn bom đạn. Có những chiến sĩ một ngày hy sinh đến bảy lần, bởi vừa chôn xuống thì pháo lại dập, đất lại bị cày xới, thi thể lại trồi lên trong khói lửa. Riêng tiểu đoàn của các ông, hơn một nghìn người đã vĩnh viễn nằm lại

Cần Thơ27/01/2026Trịnh Anh Thư - Phường Long Phú 1 (Phường Long Phú 1)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Nhẹ bước chân thôi… cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ”. Tôi đứng giữa Thành cổ Quảng Trị vào một buổi sáng nắng vàng đến rưng rưng. Gió thổi rất khẽ, sông Thạch Hãn trôi chậm và hiền đến lạ. Không gian yên bình ấy khiến người ta khó hình dung rằng nơi đây từng là địa ngục trần gian của mùa hè đỏ lửa năm 1972 nơi máu đã thấm sâu vào từng tấc đất, từng nhành cỏ. Giữa sự tĩnh lặng thiêng liêng ấy, tôi chợt nghe lịch sử lên tiếng. Không phải bằng bom đạn, mà bằng ký ức của những người đã nằm lại. Một câu chuyện thời hoa lửa không phải để thi vị hóa chiến tranh, mà để nhắc nhớ về cái giá của hòa bình.

“Thành cổ rộng, nhưng đồng đội tôi nằm chật.” Câu nói ấy của một cựu chiến binh khiến tôi lặng người.

Trong 81 ngày đêm, thành cổ Quảng Trị hứng chịu hàng vạn tấn bom đạn. Có những chiến sĩ một ngày hy sinh đến bảy lần, bởi vừa chôn xuống thì pháo lại dập, đất lại bị cày xới, thi thể lại trồi lên trong khói lửa. Riêng tiểu đoàn của các ông, hơn một nghìn người đã vĩnh viễn nằm lại.

Họ không có những nấm mồ riêng rẽ, không bia tên, không ngày giỗ. Tất cả cùng nằm chung trong ngôi mộ tập thể của Thành cổ Quảng Trị – nơi có đài tưởng niệm trung tâm với cây “đèn Thiên Mệnh” cao 8,1 mét, biểu tượng cho 81 ngày đêm giữ thành.

Những người lính trẻ chưa kịp sống trọn một ngày bình yên. Trong số họ, có những người lính mới 18, đôi mươi, thậm chí có người vừa rời ghế nhà trường, sắp tốt nghiệp cấp ba. Có chàng sinh viên khoa Văn mộng mơ, có cậu học trò lém lỉnh khai tăng tuổi để được ra trận. Có người vừa rời vòng tay mẹ, có người sắp làm cha, có người đáng yêu… Và cũng có người chưa kịp yêu. Giữa làn pháo kích dồn dập, các anh chỉ kịp gọi: “Mẹ ơi…”, “Vợ ơi…” rồi hòa mình vào khói lửa. Các anh kề vai chiến đấu và cùng nhau nằm lại, góp hồn thiêng cho sông núi. Đau thương vẫn cư chảy mãi trong tim dân tộc nhưng chính từ máu và những giọt nước mắt ấy một bản hùng ca đã được viết nên thắp sáng cả non sông.

“Sáng Quảng Trị nắng vàng rưng nước mắt

Gió mơn man ru Thạch Hãn yên lành

Những đồng đội chung chiến hào ngày ấy

Lại về đây đứng lặng dưới chân thành

Đồng đội ơi tuổi đôi mươi mười tám

Thư người thương chưa kịp viết đôi dòng

Không bia mộ hồn hóa vào trời đất

Cây cỏ đất này thấm đẫm máu các anh.”

(Trích Về Thăm Thành Cổ của Quý Dũng , in trong tập thơ Người Hát Rong,nhà xuất bản Thuận Hóa,2011)

Dòng sông Thạch Hãn hôm nay hiền hòa, nhưng dưới đáy sông ấy là hàng nghìn bộ hài cốt những “viên ngọc vô giá” của Tổ quốc. Như câu thơ của cựu chiến binh Lê Bá Dương vang vọng mãi.

“Đò xuôi Thạch Hãn ơi chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm.”

“Thời hoa lửa” gọi sao cho đúng? Xin đừng gọi chiến tranh là “thời hoa lửa” một cách dễ dàng. Không phải mất mát nào cũng nên được thi vị hóa. Không phải nỗi đau nào cũng có thể gọi tên bằng những mỹ từ lung linh. Có những cái chết trong im lặng,có những con người sống sót nhưng cả đời không ngủ yên. Với thế hệ đã đi qua chiến tranh “thời hoa lửa” không phải là một cụm từ nhẹ như gió sương, mà là một vết cắt sâu và lâu lành. Đó là thanh âm ngân lên từ những nấm mồ viễn xứ là tiếng thơ nhuốm máu,là hơi thở cuối cùng của những tuổi đôi mươi chưa kịp sống chưa kịp cất tiếng yêu. Đó là máu đỏ, là thịt rơi, là chia ly.

Gọi chiến tranh là “thời hoa lửa” không sai nhưng danh xưng ấy không thể được thổi nên một cách dễ dàng hay sáo mòn. Không thể trở thành một mỹ từ trôi tuột khỏi đầu môi khi trong nó còn ẩn sâu tiếng thét không thành lời và những giấc mơ còn đang dang dở. Đằng sau mỗi chữ “hoa” không phải những gam màu rực rỡ của thi ca mà còn là tiếng nấc nghẹn dứt ruột của người mẹ mất con, là nấm mồ vừa lấp, là tiếng gọi “mẹ ơi” vĩnh viễn chẳng có lời đáp. Và phía sau mỗi chữ “lửa” chẳng phải là thứ ánh sáng rực rỡ của chiến thắng, mà ánh mắt tuổi mười tám chưa từng nhìn thấy hòa bình, là những giấc mơ dang dở trong lòng đất, là một trái tim chưa kịp sống trọn lấy một ngày không có tiếng súng.

Lịch sử dân tộc đã chứng kiến một Việt Nam gầy guộc mà bất khuất, nhỏ bé về vóc dáng nhưng lại lớn lao trong khí phách. Một đất nước gồng mình từng bước chống giặc ngoại xâm. Máu không ngừng chảy nhưng trái tim và lý trí chưa bao giờ bị khuất phục. Từ người nông dân đến trí thức từ miền xuôi đến miền đảo xa tiếng người, chỉ cần Tổ quốc gọi họ sẵn sàng chết, máu đỏ và lý tưởng hòa vào nhau.

Dẫu vậy, chiến tranh chưa từng đẹp và cũng sẽ không bao giờ đẹp, dẫu có được gọi bằng bao nhiêu mỹ từ, dẫu có được gieo bao nhiêu vần thơ thì bản chất của nó vẫn là sự hủy diệt. Trong ánh hồi tưởng của cựu chiến binh Lê Văn Bát “nhật ký hoa lửa” không phải là một áng văn thi vị mà là lát cắt máu thịt. Thành cổ Quảng Trị mùa hè đỏ lửa 1972 là địa ngục trần gian là “cối xay thịt”.Lửa bao vây tứ phía , đạn thét thay lời, máu đỏ nhuộm cả sông Thạch Hãn. Ở đây ta mới thấu đời người đôi khi chỉ cách biệt bởi dòng sông, hàng nghìn người lính bơi qua sông nhưng đến được bờ bên kia chỉ còn vài chục.

Trong tiếng gào rền của đại bác những người trẻ đã hóa thân vào lịch sử, không kèn không hoa, cũng chẳng một tiếng thở than, họ nằm xuống như chưa từng có tuổi hai mươi. “Thời hoa lửa” là cách gọi vừa kêu hãnh vừa bi tráng,nơi hi sinh không đồng nghĩa là mất mát. Họ gọi như thế để tim không nguội lạnh giữa ngổn ngang hoang tàn. Với những người đi qua “thời hoa lửa” lại cang chẳng phải mỹ từ lãng mạng hóa chiến tranh, mà là một nốt lặng thiêng liêng để người lính năm xưa ngoảnh lại và nhớ về tuổi xuân rực lửa. “Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường ”(Chế Lan Viên).

Nhưng khi thế hệ trẻ nhắc lại những chữ ấy, liệu còn ai thấy được trong đó cả sự khốc liệt lẫn nỗi đau, hay chúng ta chỉ còn thấy những lớp sơn thi vị phủ lên chiến tranh, khiến người ta lãng mạng hóa bom đạn dễ dàng quên rằng để có được hòa bình hôm nay, đã có những người nát thân nhắm mắt còn ôm.

Chiến tranh dù đã lùi xa nhưng câu chuyện vẫn còn đó lặng thầm mà dữ dội trong ký ức dân tộc. Trong muôn vàn câu chuyện anh hùng có những khoảng khắc hy sinh lặng lẽ mà phi thường, làm nên bản hùng ca bất tử của dân tộc.

Lịch sử Thành cổ Quảng Trị được viết nên bởi những con người ấy. Giữa khói lửa chiến tranh ác liệt khi đường dây liên lạc bị giặc phá. Anh hùng lực lưỡng vũ trang nhân dân Trần Duy Hoan không có thiết bị, không còn phương tiện, ông dùng chính răng của mình để nối dây điện, chấp nhận dòng điện chạy qua cơ thể suốt năm phút để đảm bảo thông tin liên lạc được truyền kịp thời. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông co rúm vì điện giật, nhưng mạch liên lạc vẫn được giữ. Sau này khi nhắc lại ông bình thản nói “Thời khắc ấy, tôi ý thức rất rõ,nếu sợ sệt, tránh né ảnh hưởng nghiệm trọng đến chiến dịch bởi thông tin mật không thể chậm trễ một phút. Trách nhiệm với đồng đội, với cấp trên đã thôi thúc tôi dấn thân dù biết nguy hiểm.”

Nhắc đến Thành cổ Quảng Trị không thể không nhắc tới Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Minh Vân, ông được gọi trìu mến là “Triệu Tử Long” của chiến trường bởi sự gan dạ, mưu trí và tinh thần chiến đấu quật cường. Trong hơn ba nghìn trận đánh, ông bị thương mười bốn lần, nhưng chưa một lần lùi bước. Trong muôn vàn ký ức chiến tranh, kỷ niệm khiến ông day dứt là cuộc gặp gỡ bạn cũ bạn học từ năm lớp bảy cuộc hội ngộ không diễn ra trong niềm vui sum họp mà hoàn cảnh trớ trêu, người bạn ấy là một tù binh bị quân ta bắt giữ sau những ngày chiến đấu ác liệt. Giữa chiến tranh, tình bạn, ký ức tuổi thơ và hiện thực khóc liệt va vào nhau, nhắc nhở rằng chiến tranh không chỉ cướp đi sinh mạng còn chia cắt những mối quan hệ.

Cũng trên mảnh đất khốc liệt ấy Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Bùi Trung Thành nguyên đại đội trưởng đại đội 16, trung đoàn Thạch Hãn, vẫn không thể quên 81 ngày Thành cổ nơi ông đã cùng đồng đội bắn rơi 29 máy bay địch. Ngày hôm nay dạo trước Thành cổ Quảng Trị trước mắt ông là những hàng cây rì rào trong gió, bóng cây cao vút in xuống nền trời bình. Khung cảnh thanh bình ấy khiến người ta khó có thể hình dung nơi đây từng là chảo lửa của bom đạn xương máu và tuổi trẻ.

Còn với Đại tá Đào Văn Phê, một người lính trực tiếp chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị, ký ức chiến tranh luôn đi kèm với nỗi nghẹn ngào.ông nghĩ rằng mình là người may mắn khi còn sống trở về,trong khi biết bao đồng đội đã nằm mãi nơi chiến trường.Nhắc đến những thước phim như tái hiện lại trong ký ức, ông xúc động nhắn nhủ đến thế hệ trẻ hôm nay “Đất nước có được hòa bình, độc lập là nhờ sự hy sinh của hàng ngàn,hàng vạn người lính ở tuổi 18, đôi mươi.Nhiều người con chưa biết yêu là gì,chưa kịp sống trọn tuổi thanh xuân.”

Những câu chuyện thời hoa lửa không chỉ để nhớ, mà để biết ơn, để trân trọng hiện tại va sống xứng đáng với những hi sinh của thể hệ trước. Như cách nói của Nguyễn Khoa Điềm “Họ đã hóa thân cho dáng hình xứ sở.” Chúng ta không được xem đấy là điều đương nhiên mà đấy là sự quả cảm và biết ơn sự cống hiến ấy.

“ Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi…

Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ.

Trời cũng tự trong xanh và lộng gió

Dẫu ồn ào đừng lay mạnh cành cây

Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi

Thành cổ rộng sao đồng đội tôi nằm chật

Mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật

Cho hôm nay tôi đến nghẹn ngào.”

(Tấc Đất Thành Cổ của Phạm Đình Lân)

Thành cổ Quảng Trị hôm nay xanh cỏ, yên bình, nhưng dưới mỗi bước chân ta đi là một cuộc đời có thật. Họ đã hóa thân cho dáng hình xứ sở, để chúng ta được sống giữa hòa bình. Là thế hệ trẻ hôm nay, chúng ta không được phép quên. Không được phép lãng mạn hóa chiến tranh.

Chỉ được phép biết ơn, cúi đầu và sống xứng đáng. Bởi hòa bình này không tự nhiên mà có. Nó mọc lên từ máu thịt của những người đã nằm lại ở tuổi hai mươi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn