Cựu chiến binh

Thời hoa lửa - qua lời kể của người lính xe tăng Trần Quốc Tin

Lào Cai12/01/2026Hoàng Thị Phương Uyên (Trường TH & THCS An Phú)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

THỜI HOA LỬA QUA LỜI KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH XE TĂNG TRẦN QUỐC TIN

Hôm nay, chúng cháu vô cùng vinh dự được gặp bác Trần Quốc Tin – một người lính đã trực tiếp đi qua những năm tháng chiến tranh ác liệt của dân tộc. Bác sinh năm 1953, hiện tại bác đang sinh sống ở Thôn Khau Sén, Xã Mường Lai, tỉnh Lào Cai. Trong cuộc trò chuyện đầy xúc động này, chúng cháu mong được nghe bác kể lại những kỷ niệm của một thời hoa lửa – nơi tuổi trẻ, lý tưởng và sự hy sinh của cả một thế hệ đã hòa chung vào vận mệnh Tổ quốc. Qua những câu chuyện chân thực từ chính người trong cuộc, chúng cháu hiểu rõ hơn những gian khổ, mất mát mà cha anh đã trải qua, để từ đó càng trân trọng hơn giá trị của hòa bình hôm nay. Bác kể, thời của bác là giai đoạn sau của cuộc kháng chiến, nhưng sự ác liệt và gian khổ thì không hề giảm bớt. Bác nhập ngũ từ cuối năm 1971.

Từ năm 1972 đến năm 1975, bác có hơn ba năm trực tiếp chiến đấu trong quân ngũ – quãng thời gian mà ranh giới giữa sự sống và cái chết luôn mong manh. Người lính ra trận khi ấy chỉ mang theo niềm tin sắt đá, ý chí kiên cường và tình yêu Tổ quốc cháy bỏng. Khi còn là học sinh, thế hệ của bác thường truyền tay nhau đọc cuốn tiểu thuyết nổi tiếng "Thép đã tôi thế đấy" của nhà văn Nga Nikolai Ostrovsky. Sách hiếm, có khi phải đọc thâu đêm dưới ánh đèn dầu rồi chuyền cho người khác. Chính những trang sách ấy đã hun đúc trong lòng bác và đồng đội tinh thần cách mạng, lý tưởng sống cao đẹp của những người sẵn sàng hy sinh tuổi trẻ, thậm chí cả cuộc đời mình, vì độc lập – tự do của dân tộc. Bác gắn bó với quân ngũ suốt 22 năm, từ cuối năm 1971 đến năm 1993 mới xuất ngũ. Trong đó, có khoảng 14-15 năm bác trực tiếp ở chiến trường. Bác không tham gia chiến đấu chống Mỹ mà chủ yếu chiến đấu với quân ngụy Sài Gòn và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Riêng thời gian làm nhiệm vụ quốc tế, bác ở Campuchia gần tròn 10 năm – một quãng đời đầy gian khổ, hiểm nguy nhưng cũng rất đỗi tự hào.

Sau khi trở về với cuộc sống đời thường, bác bắt đầu ghi chép, sưu tầm lại những bài thơ của các cựu chiến binh từng trực tiếp tham gia chiến đấu. Đó là những vần thơ được viết bằng máu, mồ hôi và ký ức chiến trường, rất chân thật và lay động. Đến nay, bác đã ghi chép được gần 18 quyển thơ, dù biết rằng vẫn còn nhiều bài hay nữa mà không thể nhớ hết. Trước khi kể tiếp cho chúng cháu nghe những câu chuyện khác, bác xin đọc một bài thơ viết về trận đánh Công Kiêng – căn cứ Dầu Tiếng (Tây Ninh), một trận đánh mà bác và đồng đội không bao giờ quên. Sau đây em xin trích dẫn một phần của bài thơ của bác Trần Quốc Tin:

Lệnh trên xuống 500 xuất đích

Chung lối thầm lặng trứng đô tiến vào

Xe đi trong tiếng gầm gào

Trời tờ mờ sáng bước vào triển khai.

Đại đội lối chia làm 2

Hướng chính B1 địch lùi phía Đông

Phải băng qua một cánh đồng

Địa hình chống trải lại không có đường.

Ruộng khô đất cứng như trông

Xe tăng có thể mở đường vượt qua

Sáng nay thấy nước bao la

Tất cả trước mắt... Vũ là đánh thôi!

Hướng phụ là hướng của tôi

B2 hướng Bắc men đồi vượt sang

B3 dự bị sẵn sàng

Đúng 5 giờ sáng đùng đoàng tấn công.

Xe tôi giữ đúng hợp đồng

Chính trị viên Lữu đi cùng chỉ huy

Tính ông cũng chúa gan lì

Nhưng mà ít nói lại si thuốc lào.

Xung phong đứng thẳng vượt rào

Máy bay định đến bổ nhào ném bom...

Bỗng dưng thấy khói xanh om

Mũi mồm tranh thở mắt không thấy đường.

Trích dẫn: Bác Trần Quốc Tin

Bài thơ tái hiện lại một trận chiến vô cùng ác liệt của Tiểu đoàn xe tăng 22 thuộc Đoàn M26 – lực lượng tăng, thiết giáp miền Đông Nam Bộ. Trận đánh diễn ra vào rạng sáng ngày 11 tháng 3 năm 1975, khi bộ đội ta phối hợp với bộ binh tiến công căn cứ Dầu Tiếng. Trong mưa bom, bão đạn, xe tăng ta vừa tiến công, vừa phải khắc phục hỏng hóc ngay giữa chiến trường, đối mặt với bom pháo, máy bay địch và cả chất độc hóa học. Những hình ảnh hiện lên trong bài thơ khiến người nghe không thể nào quên: xe tăng bị đứt xích vẫn kiên cường sửa chữa để tiếp tục chiến đấu; chiến sĩ vừa bắn trả máy bay, vừa lao vào lửa cháy để cứu xe; bộ đội và xe tăng phối hợp chặt chẽ, tiến từng bước giữa làn đạn dày đặc. Có lúc, bom địch nổ rung chuyển mặt đất, lửa cháy lan khắp nơi, nhưng những người lính vẫn không rời vị trí, quyết tâm giữ xe, giữ trận địa. Trận đánh ấy đã cướp đi sinh mạng của nhiều đồng đội, trong đó có cả những cán bộ chỉ huy. Sự hy sinh ấy để lại nỗi đau không thể nguôi trong lòng những người còn sống, nhưng cũng chính từ mất mát ấy, ý chí chiến đấu của toàn đơn vị càng thêm sắt đá. Không lùi bước, không chùn tay, họ tiếp tục bám trụ, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Sau ba ngày chiến đấu liên tục, quân ta đã giải phóng hoàn toàn căn cứ Dầu Tiếng, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của Chiến dịch mùa Xuân năm 1975. Trận đánh ấy không chỉ là một chiến công vang dội, mà còn là minh chứng rõ nét cho tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường và sự hy sinh to lớn của những người lính xe tăng trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng ký ức về một thời hoa lửa vẫn còn nguyên vẹn trong lòng người lính năm xưa. Những câu chuyện, những vần thơ bác ghi lại không chỉ để nhớ về quá khứ, mà còn để nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân trọng hòa bình, biết ơn những con người đã hiến dâng tuổi trẻ, thậm chí cả máu xương, cho độc lập – tự do của Tổ quốc. Khép lại câu chuyện, trong lòng chúng cháu vẫn vang lên những hình ảnh không thể nào quên về một thời hoa lửa hào hùng của dân tộc. Qua lời kể chân thực và những vần thơ thấm đẫm ký ức chiến trường của bác – người lính năm xưa, chúng cháu hiểu rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao máu xương, mồ hôi và nước mắt của các thế hệ cha anh.

Những năm tháng chiến tranh gian khổ đã lùi xa, nhưng tinh thần kiên cường, lòng yêu nước và ý chí bất khuất của người lính vẫn còn nguyên giá trị. Đó không chỉ là ký ức của riêng một con người, mà là lịch sử sống động của cả dân tộc Việt Nam. Những câu chuyện ấy nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết trân trọng cuộc sống hòa bình, biết ơn sâu sắc những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Chúng cháu xin kính cẩn nghiêng mình trước những anh hùng liệt sĩ, những cựu chiến binh đã đi qua thời hoa lửa. Từ những câu chuyện được truyền lại, chúng cháu tự nhắc nhở bản thân phải không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, sống có lý tưởng, góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước – để những hy sinh cao cả ấy mãi mãi không bao giờ bị lãng quên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn