Thủ Khoa Huân
Trong lúc phong trào kháng chiến chống Pháp đang dâng cao, ngày 5-6-1862, triều đình Huế lại ký Hiệp ước Nhâm Tuất (năm 1862), có nhiều điều khoản, trong đó triều đình Huế thừa nhận 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) thuộc Pháp và phải lệnh giải tán các đội nghĩa binh đang chống Pháp ở 3 tỉnh miền Đông. Trái hẳn với triều đình, đại bộ phận nhân dân dưới sự lãnh đạo của một số văn thân sĩ phu tiếp tục đánh Pháp. Được tin Trương Định tiếp tục chống Pháp ở An Giang, tháng 6-1862, Thủ khoa Huân chuyển toàn bộ lực lượng của mình tham gia cuộc khởi nghĩa của Trương Định. Năm 1863, ông chỉ huy nghĩa quân phục kích, đánh địch ở các vùng Tam Bình, Mỹ Quý, Thuộc Nhiêu và Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho, gây cho chúng nhiều thiệt hại.
Nhằm phát triển lực lượng mạnh hơn nữa, Nguyễn Hữu Huân rất coi trọng vận động nhân dân tham gia chống Pháp. Ông còn cử người vào các xóm ấp của đồng bào Khmer, kêu gọi bà con tham gia đánh giặc, bảo vệ quê hương. Được nhân dân ủng hộ, nghĩa quân Nguyễn Hữu Huân mở rộng địa bàn hoạt động ra các tỉnh An Giang, Long An, Hà Tiên và Châu Đốc.Từ đây, phong trào kháng chiến do Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo lan rộng khắp các vùng Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn. Nhiều đội nghĩa quân do các thủ lĩnh như Nguyễn Văn Chất ở Vĩnh Long; Lê Công Thành, Phạm Văn Đồng, Lâm Lễ ở Cần Thơ và Long Xuyên đều đưa lực lượng về quy tụ dưới ngọn cờ kháng chiến của Nguyễn Hữu Huân. Thời điểm này, lực lượng nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Hữu Huân tăng lên hơn 3.000 người, lập tổng hành dinh ở làng Long Trì (nay là xã An Lục Long, tỉnh Tây Ninh). Đội nghĩa quân của Nguyễn Hữu Huân được nhân dân Nam Kỳ lục tỉnh hậu thuẫn và tích cực ủng hộ, cung cấp lương thực, thực phẩm. Hoạt động của nghĩa quân lôi cuốn cả nhiều vị chức sắc địa phương tham gia. Trong đó, nhiều người đã vận động được cả làng, cả xã mình đi theo ngọn cờ kháng chiến của Nguyễn Hữu Huân, tiêu biểu như Cai tổng Tâm ở Bình Công, Bá hộ Nhứt ở Long Trì, Bá hộ Bình ở Mỹ Đạo, Hương trưởng Kiệt ở Gia Thạnh, Lê Văn Tuân ở Tân Thới Nhứt, Thạch Bướm, cùng lực lượng của các làng xã Khmer đã có những đóng góp lớn cho phong trào.
Nhằm có nguồn vũ khí trang bị cho nghĩa quân, đầu năm 1874, Nguyễn Hữu Huân sử dụng tiền quyên góp của nhân dân gửi nhóm “Trường phát” trong tổ chức “Thiên địa hội” ở Chợ Lớn để mua vũ khí. Thế nhưng, việc không thành, thuyền chở vũ khí cho nghĩa quân bị địch phát hiện, bắt giữ. Để bảo toàn lực lượng, Nguyễn Hữu Huân quyết định chuyển nghĩa quân từ Long Trì về các vùng Tân An, Mỹ Tho, xây dựng căn cứ ở Bình Cách, trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Định Tường. Mặc dù gặp khó khăn nhưng khí thế đánh giặc của nghĩa quân không suy giảm, uy tín và ảnh hưởng của Nguyễn Hữu Huân vẫn ngày càng lan rộng trong nhân dân. Dương Đình Lập



