Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Những câu chuyện xúc động chưa kể
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Những câu chuyện xúc động chưa kể
Nỗi đau chạm đáy và ngọn lửa tự lập
Căn nhà số 34 Lý Nam Đế từng tràn ngập tiếng cười, nhưng sau khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đột ngột qua đời năm 1967, cậu bé Nguyễn Chí Vịnh (bí danh Nam Vịnh) trở thành con trai duy nhất còn lại của gia đình. Nhớ về tuổi thơ thiếu vắng hơi ấm của ba, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh từng bồi hồi chia sẻ rằng sau biến cố ấy, ông chẳng còn nhớ mẹ mình có thể nở một nụ cười nào nữa. Nén đau thương, người mẹ vẫn lặng lẽ làm việc, nuôi dạy chị em ông bằng tất cả lòng tự trọng và sự kiêu hãnh. Ngày Bác Hồ còn sống, Bác thi thoảng lại mời gia đình đến ăn cơm, ân cần hỏi han chuyện học hành.
Năm 1980, tròn 13 năm sau ngày mất của ba, người mẹ ngã bệnh rồi rời bỏ thế gian. Mất cả cha lẫn mẹ khi mới 21 tuổi, Nguyễn Chí Vịnh đứng dựa lưng vào tường trong lễ liệm. Mỗi tiếng búa đóng đinh 10 phân vào nắp quan tài dội lên như đâm thẳng vào tim ông, xé tan chút hy vọng cuối cùng. Nhưng chính trong khoảnh khắc cảm nhận bản thân đã rơi xuống tận đáy của bi kịch, bản lĩnh con nhà binh đã thức tỉnh: Con người đã xuống đến đáy thì bắt buộc phải vùng lên, vì nếu không vùng lên thì sẽ chẳng còn gì nữa.
Lửa thử vàng trên những chặng đường rèn luyện
17 tuổi, Nguyễn Chí Vịnh xin đi bộ đội. Để đủ điều kiện nhập ngũ, ông phải khai tăng thêm 2 tuổi thành 19. Dù là con của cố Đại tướng, ông không nhận bất kỳ sự ưu ái nào. Suốt gần 2 năm rèn luyện ở Thanh Hóa, ông sống đúng nghĩa một người lính: từ chiến sĩ thông tin, chăn trâu, làm ruộng, lợp nhà cho đến công việc của một anh nuôi.
Khi vào Trường Sĩ quan Thông tin ở Nha Trang, ngoài kỷ luật quân trường, ông dành trọn thời gian rảnh cho niềm đam mê đọc sách. Ông tìm đọc miệt mài đến mức cô thủ thư của trường còn lầm tưởng anh học viên trẻ mê mình nên mới năng ghé thư viện đến thế. Dù không nhớ hết mọi cuốn sách đã đọc, nhưng chính nguồn tri thức ấy đã tạo nền tảng vững chắc cho cả cuộc đời ông sau này.
Sau 3 năm học sĩ quan, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng định cử ông sang du học Liên Xô — cơ hội đổi đời mà ai cũng khao khát thời bấy giờ. Thế nhưng, khi về đơn vị chuẩn bị đi, nhận ra mình là người duy nhất không biết tiếng Nga và không muốn đi chỉ để "làm cảnh", ông quyết định quay lại gặp Bộ trưởng xin không đi nữa và nguyện vọng sang chiến trường Campuchia.
Ý định ấy lập tức vướng phải sự lo lắng từ cấp trên. Ông Lê Đức Thọ (Bác Sáu Thọ) xót xa: "Anh Thanh chỉ có một thằng con, giờ đi như vậy lỡ có làm sao thì biết ăn nói thế nào?", khiến Tướng Văn Tiến Dũng không thể đồng ý. Không bỏ cuộc, Nguyễn Chí Vịnh tìm gặp Đại tướng Lê Đức Anh (Chú Sáu Nam) — Tư lệnh Mặt trận Campuchia. Trước sự quyết tâm của người sĩ quan trẻ, Tướng Lê Đức Anh gật đầu nhưng giao hẹn một điều kiện thép: "Chú đồng ý cho cháu đi. Nhưng đi chiến trường là để công tác và chiến đấu, chưa tiến bộ là chưa được về".
Trưởng thành từ đất lửa và bản lĩnh Ngoại giao Quốc phòng
Đặt chân sang Campuchia với quân hàm Trung úy, Nguyễn Chí Vịnh may mắn gặp được người thầy tình báo nghiêm khắc — Thiếu tướng Ba Quốc (Đặng Trần Đức). Ngay lần đầu gặp mặt, Tướng Ba Quốc đã thẳng thắn dội một gáo nước lạnh: "Đây là công việc sống chết. Cậu hãy cân nhắc, không làm được thì xin về".
Môi trường làm việc khốc liệt, căng thẳng và không cho phép sai lầm tại Campuchia đã tôi luyện nên một sĩ quan tình báo sắc bén. Nghề tình báo giúp ông hiểu rõ bản chất kẻ thù, nhận diện nguy cơ xâm hại lợi ích quốc gia từ bên ngoài, đồng thời thấu hiểu sâu sắc những lựa chọn lịch sử của thế hệ cha anh đi trước như Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.
Những trải nghiệm xương máu ấy đã trở thành kim chỉ nam khi ông đảm nhiệm vai trò Ngoại giao Quốc phòng sau này. Trên bàn đàm phán quốc tế, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh luôn giữ vững phong thái bản lĩnh: Chỗ này có thể thương lượng, chỗ kia có thể mềm dẻo, nhưng khi bước tới ranh giới xâm phạm lợi ích quốc gia thì ngay lập tức phải có thái độ rõ ràng.


