Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Thượng tướng Võ Tiến Trung – Từ tuổi thơ khói lửa đến Giám đốc Học viện Quốc phòng

Quảng Ninh02/10/2026Hồng Văn Khánh (Đoàn xã Châu Thành)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thượng tướng Võ Tiến Trung sinh năm 1954, quê ở làng Quảng Đại, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, Quảng Nam (cũ), trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Cha ông là cụ Võ Đức Dật, còn gọi là Võ Miễn, từng tham gia Ban khởi nghĩa giành chính quyền tại xã Duy Mỹ, huyện Duy Xuyên trong Cách mạng Tháng Tám.

Đầu năm 1955, khi Võ Tiến Trung mới vài tháng tuổi, cha ông lúc đó là Bí thư Chi bộ đã tổ chức đưa hơn 50 đảng viên có nguy cơ bị địch bắt và thủ tiêu ra miền Bắc. Không bắt được ông Võ Miễn và những cán bộ cách mạng, địch quay sang bắt vợ con ông là bà Đỗ Thị Nhân và cậu con trai nhỏ. Hai mẹ con bị đưa vào tù để ép bà Nhân khai nơi ở và hoạt động của chồng cùng những người cách mạng khác.

Những năm tháng đầu đời của Võ Tiến Trung vì thế gắn với song sắt nhà tù. Nhiều năm sau, ông vẫn nhớ rõ cảnh mẹ mình bị tra tấn. Có lần, bà Nhân bị trói nằm trên ghế, bị cai tù đổ dung dịch xà phòng vào miệng, mũi, trong khi những tên khác dùng tấm ván ép mạnh lên bụng khiến bà chảy máu. Thấy mẹ bị hành hạ, cậu bé Trung khóc thét và lập tức bị chúng trói vào ghế, nhét chanh vào miệng rồi dùng băng dính bịt lại.

Chính những gì tận mắt chứng kiến đã khiến cậu bé Võ Tiến Trung sớm hình thành nhận thức về cuộc chiến. Ông từng nhớ lại rằng, ngay từ khi còn rất nhỏ, ông đã phân biệt rõ ràng “ta và địch”. Khoảng 6 tuổi, Trung bắt đầu làm liên lạc cho các tổ chức Đảng hoạt động bí mật trong nhà tù. Những mẩu tin, lá thư được gấp nhỏ, giấu trong ve áo hoặc đặt trong ổ bánh mì rồi được cậu chuyển qua lại giữa các đảng viên mà không để cai ngục phát hiện.

Năm 1963, khi các tù chính trị được trả tự do, Võ Tiến Trung cùng mẹ ra khỏi nhà tù. Khi ấy ông mới khoảng 9 tuổi. Sau khi được tự do, ông tiếp tục làm liên lạc cho đội công tác xã Lộc Phước, nay thuộc xã Đại Cường, huyện Đại Lộc. Đây cũng là thời điểm phong trào phá “ấp chiến lược” ở địa phương diễn ra mạnh mẽ, cuộc chiến ngày càng quyết liệt.

11 tuổi làm Đội trưởng Đội thiếu niên du kích

Năm 1965, Mỹ đưa quân viễn chinh trực tiếp tham chiến tại Việt Nam và đẩy mạnh chiến tranh. Trước ưu thế về vũ khí, phương tiện và những hoạt động tuyên truyền về sức mạnh quân sự của Mỹ, nhiều người lúc đó có tâm lý e ngại. Tuy nhiên, Võ Tiến Trung lại muốn chứng minh rằng lính Mỹ dù được trang bị hiện đại vẫn có thể bị đánh bại.

Tháng 5/1965, khi mới 11 tuổi, Võ Tiến Trung được giao làm Đội trưởng Đội thiếu niên du kích bí mật. Đội vừa tham gia chiến đấu, vừa làm công tác địch vận. Các thành viên được huấn luyện cách làm vũ khí tự tạo, sử dụng súng và lựu đạn. Võ Năm, Trần Quốc Tám, Nguyễn Tứ, Trần Quốc Dũng, Trần Hoa, Lê Phước Tiến và Lê Phước Ảnh là những thiếu niên cùng tham gia đội; sau này 4 người trong số họ đã hy sinh.

Với sự gan dạ và khả năng quan sát, Võ Tiến Trung nhiều lần trực tiếp dùng lựu đạn, súng ngắn để đánh lính Mỹ và thu vũ khí cho du kích. Những chiến công khi tuổi đời còn rất nhỏ nhanh chóng được ghi nhận. Năm 1966, ông được dự Hội nghị tổng kết chiến tranh du kích Quân khu 5, dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua Liên khu 5, được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì và được cử vào Trung ương Cục miền Nam báo cáo kinh nghiệm đánh Mỹ.

Tại đây, Võ Tiến Trung gặp “chú Trường Sơn”, bí danh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Nghe kể về hoàn cảnh gia đình và những chiến công của cậu thiếu niên Quảng Nam, Đại tướng rất xúc động. Thấy khẩu K54 của “chú Trường Sơn”, Võ Tiến Trung thích thú và xin được xem. Trước khi trở về đơn vị, ông được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tặng một khẩu súng ngắn cùng hộp kíp điện để tiếp tục chiến đấu.

Năm 1969, Võ Tiến Trung phát hiện một đại đội địch gần 100 tên đang tổ chức càn quét, truy lùng cán bộ cách mạng. Sau khi báo cáo cấp trên, ông sử dụng hộp kíp điện được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tặng, kết hợp với 9 quả đạn pháo 105mm và một quả đạn cối 81mm thu nhặt trước đó để tạo thành một trận địa bẫy mìn dài khoảng 200m trên tuyến đường đối phương dự kiến đi qua.

Khi đội hình địch lọt vào trận địa, mìn phát nổ gây thiệt hại nặng. Đại đội 11, Trung đoàn 38 sau đó tổ chức xung phong, tiêu diệt gần như toàn bộ đại đội đối phương. Trong trận đánh này, Võ Tiến Trung được công nhận trực tiếp tiêu diệt 15 tên địch và được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú.

Ba lần tốt nghiệp thủ khoa

Sau khi hoàn thành chương trình phổ thông, năm 1974, Võ Tiến Trung thi vào Trường Sĩ quan Đặc công. Kinh nghiệm chiến đấu thực tế kết hợp với kiến thức được học tại trường giúp ông sớm thể hiện khả năng nghiên cứu và sáng tạo. Ngay từ năm thứ nhất, ông đã nghiên cứu cải tiến mìn M2 thành mìn M3 có cơ cấu chống tháo, phù hợp với yêu cầu chiến đấu của lực lượng đặc công nước.

Năm 1978, Võ Tiến Trung tốt nghiệp thủ khoa, được phong quân hàm Thiếu úy và được giữ lại Trường Sĩ quan Đặc công làm giảng viên Khoa Chiến thuật. Trong thời gian này, ông từng sang Campuchia nghiên cứu chiến trường, sau đó xây dựng phương án tiêu diệt các căn cứ lõm của quân Pôn Pốt. Những nghiên cứu này được Bộ Tư lệnh Binh chủng Đặc công đánh giá cao và đưa vào vận dụng trong thực tế.

Năm 1979, ông được thăng Trung úy và cử đi đào tạo giáo viên chiến thuật cấp trung đoàn tại Học viện Lục quân. Sau 18 tháng, Võ Tiến Trung tiếp tục tốt nghiệp thủ khoa lần thứ hai. Trở về Trường Sĩ quan Đặc công, ông được bổ nhiệm Phó khoa Chiến thuật, đồng thời tham gia biên soạn các bài giảng về phương pháp tác chiến đặc công.

Năm 1985, Võ Tiến Trung chuyển về Quân khu 5, lần lượt làm trợ lý Phòng Tác chiến, Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng. Năm 1992, ông theo học Khóa 13 chỉ huy - tham mưu cao cấp tại Học viện Quốc phòng và một lần nữa tốt nghiệp thủ khoa. Sau khóa học, ông được bổ nhiệm Phó sư đoàn trưởng kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn Bộ binh 315, Quân khu 5.

Tháng 6/1995, khi mang quân hàm Thượng tá, Võ Tiến Trung được cử làm nghiên cứu sinh tại Học viện Quốc phòng. Từ kinh nghiệm nhiều năm chiến đấu, ông lựa chọn nghiên cứu đề tài về nghệ thuật đánh địch đổ bộ đường không trong chiến dịch tiến công. Sau khoảng 5 năm vừa công tác vừa nghiên cứu, năm 2001, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và đạt loại xuất sắc.

Năm 2002, Võ Tiến Trung được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Quân khu 5, trực tiếp chỉ huy lực lượng tiền phương của quân khu tại Gia Lai. Sau đó, ông tiếp tục học lớp chiến dịch - chiến lược tại Học viện Quốc phòng và tốt nghiệp loại giỏi năm 2004.

Sau khóa học, ông được đề nghị trở lại công tác tại Bộ Tư lệnh Binh chủng Đặc công nhưng mong muốn tiếp tục gắn bó với Quân khu 5. Nguyện vọng được chấp thuận và ông được bổ nhiệm Phó tư lệnh Quân khu 5.

Từ Quân khu 5 đến Giám đốc Học viện Quốc phòng

Năm 2009, Thiếu tướng Võ Tiến Trung được điều động ra làm Phó giám đốc Học viện Quốc phòng. Một năm sau, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Học viện Quốc phòng, được thăng quân hàm Trung tướng và được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày 19/12/2014, Võ Tiến Trung được thăng quân hàm Thượng tướng.

Từ một cậu bé vài tháng tuổi phải cùng mẹ vào tù, rồi trở thành người liên lạc khi mới 6 tuổi, Đội trưởng Đội thiếu niên du kích ở tuổi 11 và trực tiếp chiến đấu trong những năm tháng chiến tranh, Võ Tiến Trung từng bước trưởng thành trong quân đội. Con đường binh nghiệp của ông gắn liền với chiến đấu, nghiên cứu, giảng dạy và công tác chỉ huy.

Đáng chú ý, trong quá trình học tập và công tác, ông ba lần tốt nghiệp thủ khoa ở các cấp học quân sự quan trọng, đồng thời bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Từ những trải nghiệm chiến trường khi còn rất trẻ, Võ Tiến Trung tiếp tục đưa kinh nghiệm thực tế vào nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo cán bộ, trước khi đảm nhiệm vị trí Giám đốc Học viện Quốc phòng.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn