TIẾNG GỌI THIÊNG LIÊNG
TIẾNG GỌI THIÊNG LIÊNG
Có những con người sinh ra để thuộc về
một vùng đất, dù nơi chôn rau cắt rốn của họ ở
một dải giang sơn khác. Nhưng họ lại nung nấu
trong tim ngọn lửa một đất nước thống nhất,
hòa bình đẹp lắm. Một trong những số ấy có
chàng trai Tư Bình- Vũ Đình Liệu.
Thế kỷ hai mươi cuộn chảy qua dải đất
hình chữ S bằng những vết thương rách nát của
bom đạn, nhưng cũng chính từ trong đau
thương ấy, một thế hệ kiệt xuất đã đứng lên, lấy
máu mình để tô thắm màu cờ, viết lên những
câu chuyện rực rỡ cho trang sử hào hùng của
dân tộc. Người ta gọi đó là những “câu chuyện
thời hoa lửa”. Ông Vũ Đình Liệu — một người
con của đất Bắc (Nam Định) — đã nghe theo
tiếng gọi thiêng liêng ấy, thực hiện một chuyến
tàu định mệnh hướng về phương Nam khi tuổi
đời còn chớm đôi mươi.
Đất miền Tây sông nước không đón ông bằng hoa hồng, mà thử thách ông
bằng vị mặn mòi của phèn chua, bằng những trận càn khốc liệt của giặc Pháp giữa
rừng đước Cà Mau, và cả những trận bão lửa của đế quốc Mỹ trên dải Lộ Vòng
Cung rực cháy. Từ chàng thanh niên yêu nước đến vị Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy
Quân khu 9, bí danh Tư Bình đã trở thành một phần máu thịt của mảnh đất này.
Người chỉ huy ấy đã đi qua cuộc chiến bằng bản lĩnh quyết đoán thép, bằng tư duy
mưu trí bám đất bám dân, và trên hết, bằng một trái tim nặng trĩu tình yêu thương
đồng đội, đồng bào.
Khi tiếng súng lặng yên, dẫu bước lên đỉnh cao quyền lực của một Phó Chủ
tịch nước hay lúc đã về vui với bóng xế tuổi già, người lính già ấy chưa bao giờ
quên những người đã nằm lại. Ông đã dành những hơi sức cuối cùng của cuộc đời
để chạy đua với thời gian, lật giở từng trang sử nhòe máu, viết nên bộ bách khoa
toàn thư của lòng biết ơn, đòi lại danh tính cho những linh hồn bất tử của miền Tây
sông nước.
NGƯỜI LÃNH ĐẠO KIỆT XUẤT
Ông Vũ Đình Liệu tức Tư Bình, (1918–2005) là nhà cách mạng lão thành
kiệt xuất. Ông là cựu Bí thư Khu ủy Khu 9 (Tây Nam Bộ) kiêm Chính ủy Quân
khu 9, người trực tiếp chỉ huy các lực lượng tiến công và nổi dậy giải phóng Tây
Nam Bộ và Cần Thơ trong Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975).
Một Nhà chiến lược tài ba, tư duy sắc bén, sự dũng cảm và quyết đoán của
ông khi bám trụ chiến trường sông nước miền Tây, xây dựng lực lượng vũ trang thể
hiện khoảnh khắc ông đưa ra quyết định tiến công giải phóng Cần Thơ bằng nội
lực tại chỗ mà không chờ đại quân từ miền Đông xuống.
Giữa tháng 4/1975, trước bước tiến thần tốc của đại quân trên cả nước,
Thường vụ Khu ủy Khu 9 và Tỉnh ủy Cần Thơ đứng trước bài toán chiến lược hóc
búa. Địch coi Cần Thơ là trọng điểm phòng thủ số hai (sau Sài Gòn), tập trung tới 4
trung đoàn chủ lực, một thiết đoàn và hệ thống phòng tuyến Lộ Vòng Cung kiên
cố.Giữa không khí khẩn trương, đồng chí Vũ Đình Liệu (Tư Bình), Bí thư Khu ủy
Khu 9 kiêm Chính ủy Quân khu, đã chủ trì các cuộc họp khẩn cấp. Đứng trước đề
xuất chờ đại quân từ miền Đông tiến xuống tiếp ứng để đảm bảo chắc thắng, ông
phân tích tình hình: nếu chờ đợi, địch sẽ dồn toàn lực tử thủ gây đổ máu lớn cho
nhân dân, đồng thời đánh
mất thời cơ "thần tốc" của
cả nước. Trong cuộc thảo
luận, một số ý kiến tỏ ra cân
nhắc: Lực lượng địch tại
Cần Thơ quá đông, lại được
trang bị vũ khí hạng nặng.
Nếu tấn công trực diện bằng
lực lượng địa phương (Sư
đoàn 4 của Khu, Tiểu đoàn
Tây Đô, quân dân địa
phương) có thể gặp sức
kháng cự dữ dội. Do đó, có
phương án đề xuất nên vừa
vây ép, vừa chờ đại quân
chủ lực từ Sài Gòn xuống phối hợp tiêu diệt. Tuy nhiên đồng chí Vũ Đình Liệu
đứng trước bản đồ tác chiến, giọng đanh thép nhưng vô cùng điềm tĩnh: "Thời cơ
giải phóng Cần Thơ đã chín muồi! Không được chần chừ, không thể chờ đại quân
từ Miền Đông xuống. Phải dùng lực lượng tại chỗ của Quân khu 9 và nhân dân
Cần Thơ phát động tiến công và nổi dậy ngay lập tức! Đánh ngay lúc địch đang
hoang mang tột độ để làm tan rã toàn bộ hệ thống phòng thủ của chúng!"
Ngay sau khi mệnh lệnh được phát ra, toàn bộ bộ máy chiến tranh của ta tại Cần
Thơ kích hoạt thần tốc: Sư đoàn 4 (Bộ đội Quân khu 9) phối hợp cùng Tiểu đoàn
Tây Đô và pháo binh siết chặt vòng vây, dồn dập tấn công các cứ điểm, chi khu
Phong Điền và tuyến Lộ Vòng Cung. Lực lượng biệt động, cơ sở nội thành áp sát
và tiếp quản Đài Phát thanh Cần Thơ. Chiều ngày 30/4, đại diện Mặt trận Dân tộc
Giải phóng đọc lời kêu gọi binh lính địch buông súng đầu hàng. Tướng Ngụy
Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng tuyệt vọng, rút lui và tự sát. Hàng chục ngàn
quân địch buông súng đầu hàng, đến 19 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975,
thành phố Cần Thơ được giải phóng hoàn toàn — mặt trận Cần Thơ tự giải phóng
bằng chính sức mạnh tại chỗ, không cần đợi đại quân từ Sài Gòn tiến xuống.
NHỮNG CHIẾN TÍCH HÀO HÙNG
* Lộ Vòng Cung (Cần Thơ): Đây là địa danh đắt giá nhất. Được ví như "vành đai
lửa" hay "tuyến lửa" bảo vệ sào huyệt Vùng IV chiến thuật của địch. Ông Vũ Đình
Liệu từng có câu tổng kết nổi tiếng về nơi này: "Vòng cung là biểu tượng của ác
liệt, gian khổ, là biểu tượng của kiên cường, dũng cảm…". Đưa bối cảnh bom đạn,
trực thăng oanh tạc tại đây vào truyện
sẽ làm bật lên tính khốc liệt của chiến
tranh.
Lộ Vòng Cung là tuyến đường
dài khoảng 30km, chạy cánh cung qua
các xã Ba Se, Phước Thới, Thới An
Đông, Phong Điền, Mỹ Khánh... ôm
trọn nội ô thành phố Cần Thơ từ phía
Tây và Tây Nam. Đối với chính quyền
Saigon: Cần Thơ là "thủ phủ" Vùng 4
Chiến thuật, nơi đặt Bộ Tư lệnh Quân
đoàn IV, Sư đoàn 4 Không quân (sân
bay Trà Nóc), Sư đoàn 21, Trung tâm
Huấn luyện Quang Trung... Lộ Vòng
Cung là tuyến phòng thủ then chốt nhất
để bảo vệ các cơ quan đầu não này.
Đối với lực lượng cách mạng: Đây là
bàn đạp quân sự duy nhất để áp sát,
tiến công vào nội ô Cần Thơ, đồng thời
là hành lang chuyển quân, vũ khí từ
vùng căn cứ ra mặt trận. Địch dùng tối
đa hỏa lực không quân, pháo binh và
xe tăng cày xới dọc tuyến Lộ Vòng
Cung để chặn đường rút và tiếp viện
của ta. Địch biến nơi đây thành "vùng
tự do bắn phá", dội hàng ngàn tấn bom
đạn, rải chất độc hóa học làm xơ xác
toàn bộ vườn cây, làng mạc. Sau năm
1968, địch tập trung lực lượng mở
chiến dịch "Bình định cấp tốc", dựng lên hàng trăm đồn bốt dày đặc dọc Lộ Vòng
Cung. Quân và dân Cần Thơ kiên cường bám trụ theo phương châm "Một thước
không đi, một li không rời". Các cuộc bẻ phong tỏa, phục kích xe quân sự, san bằng
đồn bốt diễn ra liên tục đêm ngày dưới tầm bom đạn dồn dập.
Khi mệnh lệnh tiến công từ Bộ Chỉ huy Tiền phương (Bí thư Khu ủy Vũ Đình
Liệu) phát ra, lực lượng tại chỗ từ tuyến Lộ Vòng Cung đã đồng loạt xung phong,
đánh chiếm các cầu trọng yếu, áp sát nội ô, buộc hàng ngũ địch tại Vùng 4 tan rã và
đầu hàng.
* Căn cứ Vườn Mận (Cần Thơ): Nơi đặt Sở chỉ huy tiền phương của Khu ủy Khu 9
và Tỉnh ủy Cần Thơ trong Tết Mậu Thân 1968. Chính tại căn cứ lòng dân này, ông
Vũ Đình Liệu đã trực tiếp bám trụ để chỉ đạo các mũi biệt động thành tấn công vào
nội đô Cần Thơ. Vườn Mận nằm dọc theo rạch Ngã Bát (xã Long Tuyền, huyện
Châu Thành cũ).
Đây là vùng cây trái
rậm rạp, hệ thống
sông rạch chằng
chịt, chỉ cách trung
tâm nội ô Cần Thơ
khoảng 5km và
cách Sân bay Trà
Nóc chưa đầy 2km.
Mặc dù nằm rất gần
các cơ quan đầu
não quân sự sừng
sỏ của chính quyền
Saigon (Bộ Tư lệnh
Quân đoàn IV, Sư
đoàn 4 Không quân, Tỉnh trưởng Cần Thơ), nhưng nơi đây lại có địa hình vô cùng
thuận lợi để giấu quân, tiếp tế và làm bàn đạp xuất kích. Cuối năm 1967, để chuẩn
bị cho trận đánh quyết định Mậu Thân 1968, Thường vụ Khu ủy Khu 9 và Tỉnh ủy
Cần Thơ đã quyết định chọn Vườn Mận làm Sở chỉ huy tiền phương. Điều đặc biệt
nhất của Căn cứ Vườn Mận là không có hệ thống hầm hào kiên cố hay lô lô đố
bằng bê tông. Toàn bộ sức mạnh bảo vệ căn cứ dựa vào lòng dân.
Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, đồng chí Vũ Đình Liệu — Phó Bí thư
Khu ủy Khu 9, kiêm Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ — đã trực tiếp bám trụ tại Sở chỉ huy
tiền phương Vườn Mận. Mặc cho bom đạn địch cày xới và pháo binh bắn phá dữ
dội vào vùng ven Cần Thơ, đồng chí Tư Lê cùng Ban Thường vụ Tỉnh ủy không
rời căn cứ. Tại hầm chỉ huy Vườn Mận, ông trực tiếp theo dõi từng diễn biến trên
chiến trường nội đô qua đài vô tuyến và báo cáo từ các trinh sát. Đồng chí Vũ Đình
Liệu đã trực tiếp phát lệnh chỉ đạo các lực lượng biệt động thành, Tiểu đoàn Tây
Đô, Tiểu đoàn 303, 307 và các mũi tiến công quân sự – chính trị đồng loạt đánh
thẳng vào các mục tiêu trọng yếu trong nội ô: Giữa thời điểm giao tranh nghẹt thở,
địch phản công điên cuồng bằng máy bay B-52, trực thăng vũ trang và quân thiết
giáp, anh Tư Bình vẫn giữ vững sự điềm tĩnh. Ông trực tiếp gặp gỡ, động viên các
chiến sĩ biệt động trước giờ xuất kích, đồng thời chỉ đạo công tác binh vận, phát
động nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ ở vùng ven. Căn cứ Vườn Mận khẳng
định một trận lịch sử: Không có căn cứ nào kiên cố bằng lòng dân. Nhân dân chính
là bức tường thành vững chắc nhất che chở cho Đảng, cho cách mạng ngay dưới
nòng súng của kẻ thù. Ngày nay, Căn cứ Vườn Mận đã được phục dựng và công
nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia, trở thành nơi giáo dục truyền thống yêu nước
và lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ mai sau.
* Căn cứ Cái Chanh (Bạc Liêu): Nơi ghi dấu cuộc họp lịch sử ngày 20/11/1973 do
ông Vũ Đình Liệu (Bí thư Khu ủy Khu 9) chủ trì để công bố quyết định tái lập tỉnh
Bạc Liêu. Nơi này gắn liền với những rừng đước, rừng tràm rậm rạp, những con
rạch chằng chịt nuôi giấu cán bộ, là một trong những "địa chỉ đỏ" kiêu hãnh của
cách mạng miền Tây Nam Bộ. Được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia đặc
biệt, nơi đây không chỉ lưu giữ những mốc lịch sử sinh tử của tỉnh Bạc Liêu mà
còn là biểu tượng bất tử của thế trận lòng dân giữa rừng tràm, rừng đước ngút ngàn.
Địa hình nơi đây được
bao bọc bởi những
cánh rừng tràm, rừng
đước rậm rạp, cùng hệ
thống kênh rạch chằng
chit. Đây là "lá chắn
xanh" tự nhiên tuyệt
vời giúp che giấu hàng
ngũ cán bộ, kho tàng
vũ khí và các cuộc họp
quan trọng khỏi sự
phát hiện của máy bay
trinh sát hay pháo binh
địch. Mặc dù bị địch
càn quét, trút hàng
ngàn tấn bom đạn và
rải chất độc hóa học để
"bóc vỏ" vùng căn cứ, nhân dân Cái Chanh vẫn kiên trung bám đất, đào hầm bí mật
dưới gốc tràm, gốc đước để bảo vệ cán bộ. Mỗi con rạch, ngôi nhà ở Ninh Thạnh
Lợi đều trở thành một gạch nối an toàn cho tuyến đường giao liên cách mạng.
Đồng chí Vũ Đình Liệu đã thay mặt Khu ủy Khu 9 chính thức công bố quyết định
tái lập tỉnh Bạc Liêu (sau một thời gian sáp nhập với Cà Mau thành tỉnh Tây Nam).
Xây dựng Bạc Liêu thành một bàn đạp quân sự – chính trị vững chắc, chia lửa với
các mặt trận khác tại Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá. Tạo tiền đề trực tiếp để Tỉnh ủy
Bạc Liêu phát động đợt tiến công và nổi dậy giải phóng tỉnh lỵ Bạc Liêu mà không
tốn một giọt máu vào tháng 4/1975. Căn cứ Cái Chanh không chỉ gắn liền với dấu
ấn của ông Vũ Đình Liệu trong giai đoạn 1973 – 1975, mà trong thời kỳ kháng
chiến chống Pháp, nơi đây còn là nơi làm việc của các nhà lãnh đạo kiệt xuất của
Xứ ủy Nam Bộ như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Ung Văn
Khiêm...
LÒNG KIÊN ĐỊNH CỦA CHÀNG TRAI ĐẤT BẮC
Thời gian vùn vụt trôi, cuộc chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn tàn khốc
nhất. Vũ Đình Liệu lúc này đã là Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu 9. Địa
bàn của ông là Lộ Vòng Cung (Cần Thơ) — cái dải đất dài ngút mắt nhưng gánh
chịu hàng vạn tấn bom đạn mỗi ngày, được mệnh danh là "vành đai lửa". Đêm
tháng 4 năm 1975, trong căn hầm chữ A chật chội tại căn cứ Vườn Mận, không khí
đặc quánh mùi đất ẩm và khói thuốc lá. Tiếng pháo từ sân bay Trà Nóc dội về làm
những chiếc lá tràm trên nóc hầm rung lên bần bật. Tư Bình đứng bên chiếc bản đồ
tác chiến, đôi mắt thâm quầng vì thiếu ngủ nhưng rực sáng. Hòa bình chưa ấm chỗ,
Vũ Đình Liệu lại nhận một trọng trách mới: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh khóa đầu tiên. Sài Gòn những năm 1977–1979 không còn tiếng bom,
nhưng lại nhức nhối bởi "giặc đói" và khủng hoảng kinh tế thời bao cấp. Thành phố
thiếu gạo, nhà máy thiếu nguyên liệu, dòng người hồi hương và vượt biên tạo nên
những làn sóng ngầm bất ổn. Giữa bạt ngàn khó khăn ấy, ông gặp lại người đồng
chí thân thiết: Bí thư Thành ủy Sáu Dân (Võ Văn Kiệt). Hai người đàn ông luống
tuổi, tóc đã chớm bạc, thường xuyên thức trắng đêm tại văn phòng UBND thành
phố để tìm kế sách. Có những buổi chiều, Tư Bình cùng ông Sáu Dân bước xuống
tận các chợ đầu mối, các xí nghiệp, nhìn người dân xếp hàng rồng rắn chờ đổi từng
lon gạo mốc. Sự quyết đoán thời chiến một lần nữa được đánh thức. Sát cánh cùng
Sáu Dân, Vũ Đình Liệu đồng lòng thực hiện những quyết sách "xé rào" lịch sử: chủ
động xuống miền Tây thu mua lúa gạo theo giá thị trường để cứu đói cho dân Sài
Gòn, cởi trói cho các doanh nghiệp tự chủ sản xuất. Đó là những bước đi đầy rủi ro,
có thể đổi bằng cả sinh mệnh chính trị, nhưng như ông từng nói: "Nếu sợ trách
nhiệm mà để dân đói, thì chúng ta làm cách mạng làm gì?" Năm 1980, ông Tư
Bình rời Thành phố Hồ Chí Minh nhộn nhịp để quay lại miền Tây. Đất Hậu Giang
(bao gồm Cần Thơ, Sóc Trăng, Hậu Giang ngày nay) đón người con cũ bằng những
cánh đồng nhiễm phèn xám xịt, hậu quả của chiến tranh và thiên tai liên miên. Trên
cương vị Bí thư Tỉnh ủy, ông không ngồi phòng máy lạnh. Chiếc xuồng ba lá lại
cùng ông len lỏi qua từng bờ kênh, con rạch ở Long Mỹ, Phụng Hiệp. Cảnh tượng
nông dân không mặn mà với ruộng đất, kho tàng trống rỗng vì cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp khiến ông đau thắt ruột. Đêm ngồi ở lán trại ven sông, muỗi vo
ve bên ánh đèn dầu, Tư Bình lật giở từng trang báo cáo, tay bóp trán suy nghĩ. Ông
hiểu rằng, muốn dân tin Đảng, bụng dân phải no trước đã. Ông bắt đầu chỉ đạo thí
điểm những chính sách nới lỏng, khuyến khích nông dân tự chủ sản xuất, tạo động
lực để biến Hậu Giang thành vựa lúa lớn nhất miền Tây, giải vây lương thực cho cả
vùng. Có một buổi tối, Tư Bình ghé vào nhà một lão nông tri điền ở vùng ven sông
Hậu. Bên mâm cơm đạm bạc chỉ có cá lòng tong kho quẹt và rổ rau muống đồng,
hai người đàn ông — một là lãnh đạo cao nhất tỉnh, một là người nông dân cả đời
bán lưng cho trời — trò chuyện quên đêm muộn. Lão nông thật thà nói: “Thưa anh
Tư, tụi tui làm ra hạt lúa mà bán theo giá nghĩa vụ rẻ như cho, không đủ tiền mua
phân bón, mua dầu chạy máy. Cứ đà này, chắc bỏ ruộng đi Bình Dương làm mướn
hết”. Lời nói bộc trực ấy như gáo nước lạnh dội vào tim người làm cách mạng. Tư
Bình lặng người, ông vuốt chòm tóc đã bạc quá nửa. Bản tính mưu trí và tình cảm
sâu nặng với nhân dân không cho phép ông làm ngơ trước thực tế phũ phàng. Trở
về tỉnh ủy, ông lập tức họp bàn, quyết đoán đưa ra những quyết sách "vượt rào"
trong thu mua nông sản, nâng giá lúa sát với thực tế để người nông dân có lời, khơi
thông dòng chảy sinh mệnh của nền nông nghiệp miền Tây.
Tháng 4 năm 1982, bước ngoặt lớn đưa ông Vũ Đình Liệu ra Hà Nội. Tại
Đại hội Đảng toàn quốc, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được
Quốc hội phê chuẩn giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Từ một người lính
bám trụ chiến trường sông nước, nay ông ngồi ở trung tâm quyền lực, gánh trên vai
vận mệnh nông nghiệp của cả một quốc gia đang khủng hoảng trầm trọng.
Hà Nội những năm đầu thập niên 80 trầm mặc, thiếu thốn. Trong các cuộc
họp căng thẳng tại Ba Đình, Tư Bình mang theo cái chất bộc trực, thực tế của
người Nam Bộ vào nghị trường. Ông phải đối mặt với những tư duy giáo điều,
những ý kiến bảo thủ muốn giữ khư khư cơ chế bao cấp, hợp tác xã kiểu cũ. Bằng
bản lĩnh của người từng đưa ra những quyết định sinh tử ở Lộ Vòng Cung, Phó
Chủ tịch Vũ Đình Liệu kiên quyết bảo vệ quan điểm đổi mới. Ông cùng các đồng
chí tâm huyết đi khảo sát khắp các tỉnh thành từ Bắc chí Nam, thu thập chứng cứ
thực tế để chứng minh: Phải giải phóng sức sản xuất của nông dân, phải giao ruộng
đất về tay người cày. Những đóng góp bền bỉ của ông trong giai đoạn 1982–1987
chính là những viên gạch nền móng vững chắc, góp phần thổi bùng lên làn gió Đổi
mới tại Đại hội VI (1986), biến Việt Nam từ một nước thiếu đói trở thành cường
quốc xuất khẩu gạo sau này.
Nửa sau thập niên 1980, căn nhà nhỏ của ông Tư Bình đón tiếp một vị khách
đặc biệt. Đó là ông Sáu Dân (Võ Văn Kiệt). Hai người đàn ông từng chèo lái qua
bao thác ghềnh của chiến tranh và những đêm trắng xé rào kinh tế ở Sài Gòn, nay
ngồi đối diện nhau, mái đầu đã bạc trắng như lau. Bên ấm trà quạnh đặc, ông Sáu
Dân nhìn người bạn già, giọng trầm ngâm: “Anh Tư nè, tụi mình sống được đến
ngày hòa bình, nhìn đất nước đổi mới, là diễm phúc lớn lắm rồi. Nhưng còn bao
nhiêu anh em nằm lại ở rừng tràm U Minh, ở vành đai lửa Lộ Vòng Cung... Nhiều
người đến cái tên trên tấm bia mộ cũng bị bom đạn xóa nhòa. Nếu tụi mình không
viết lại, mai mốt nằm xuống, ai sẽ kể cho con cháu nghe về một thời máu lửa của
miền Tây?” Tư Bình lặng đi. Câu nói của người đồng chí như khơi trúng dòng
nước ngầm bấy lâu nay vẫn âm ỉ chảy trong ngực ông. Đêm đó, sau khi ông Sáu
Dân ra về, ông Tư Bình đứng bên cửa sổ nhìn ra khoảng sân tối. Trước mắt ông
không phải là ánh đèn đường thành phố, mà là khuôn mặt của những chiến sĩ tuổi
đôi mươi ở Tiểu đoàn Tây Đô là nụ cười của bà má miền Nam đã hy sinh thân
mình gác hầm cho ông ở căn cứ Vườn Mận. Họ như đang nhìn ông, gửi gắm một
lời thế ước chưa thành. Ông tự nhủ: “Phải viết. Phải đòi lại danh tính cho anh
em.”
Thế là, một cuộc hành trình mới bắt đầu. Không còn xe đưa xe đón, không
còn những văn bản chỉ thị của Phó Chủ tịch Chính phủ, ông Tư Bình trở lại làm
một "người lính" đi tìm ký ức. Ở tuổi thất thập, xương khớp đã đau nhức mỗi khi
trái gió trở trời, ông vẫn lặn lội ngược xuôi khắp dải đất Tây Nam Bộ.
Ông tìm đến những căn nhà lá lụp xụp ở vùng sâu vùng xa để gặp lại các cựu chiến
binh, những người giao liên năm xưa nay đã thành những ông lão, bà lão răng long
tóc bạc. Ông kiên nhẫn ngồi nghe họ kể, tỉ mẩn ghi chép từng chi tiết nhỏ: trận càn
đó diễn ra ngày nào, ai là người ôm bộc phá lao lên, ai là người ngã xuống bên bờ
kinh xáng...Có những đêm, tại bàn làm việc ngập tràn tài liệu, ông Tư Bình đeo
kính lão, tay run run lật giở những trang nhật ký chiến trường mục nát, nhòe nhoẹt
vết máu và nước phèn. Nhiều lúc, ông phải dừng bút, tháo kính ra để lau những
giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo khi bắt gặp tên một người đồng đội cũ.
Sức khỏe ngày một suy giảm, những cơn đau thắt ngực ập đến thường xuyên hơn,
nhưng mỗi khi nhìn vào tập bản thảo ngày một dày
lên, ông lại tự nhủ phải cố thêm chút nữa. Ông
đang chạy đua với tử thần để giữ lại linh hồn cho
lịch sử.
Năm 2002, bộ công trình đồ sộ "Lịch sử Tây
Nam Bộ kháng chiến" gồm 3 tập, dày hơn 1.500
trang chính thức hoàn thành và ra mắt. Cầm cuốn
sách còn thơm mùi mực trên tay, ông Tư Bình khẽ
vuốt ve tấm bìa như đang vuốt ve gương mặt của
những người đồng đội. Hơn một nghìn trang sách
không chỉ là những con số, những mốc son sự kiện
giáo điều, mà là xương máu, là nước mắt, là tên
tuổi của hàng vạn con người đã ngã xuống để giữ
lấy màu xanh cho vựa lúa miền Tây. Ông đã thực
hiện được lời hứa thiêng liêng của đời mình.
DẤU ẤN THỜI GIAN
Ngày 17 tháng 6 năm 2005, trái tim của người chiến sĩ cách mạng lão thành Vũ
Đình Liệu ngừng đập. Ông ra đi thanh thản, khép lại một cuộc đời 87 năm đầy
oanh liệt. Trong những giờ phút cuối cùng, gương mặt ông hiện lên nét bình yên lạ
thường. Người ta bảo, ông không phải ra đi, mà là đang bước lên một chuyến tàu
đặc biệt, trở về với dòng sông phù sa miền Tây, nơi có hàng vạn đồng đội đang
đứng chờ ông, tay vẫy chào người Chính ủy kiên cường năm ấy. Dù ông đã ra đi
theo các đồng chí đồng đội nhưng tinh thần nhiệt huyết vãn tồn tại theo năm tháng.
Để tưởng nhớ công lao mà ông đã
đóng góp cho vùng đất Tây nam
bộ đã có những địa danh mang tên
ông- Vũ Đình Liệu như Trường
THPT Châu Thành (Trà Vinh) đổi
tên thành THPT Vũ Đình Liệu, để
lớp lớp học sinh nhắc nhớ về người Bí thư Tỉnh ủy từng chiến đấu và lãnh đạo ngay
trên mảnh đất này.
Ngày 1 tháng 8 năm 2024, Trường
Tiểu học Vị Thanh 1 (Hậu Giang cũ)
cũng được đổi tên thành Trường
Tiểu học Vũ Đình Liệu, nay là xã Vị
Thanh 1, TP. Cần Thơ, thể hiện sự
trân trọng của người dân nơi ông
từng gắn bó.
Tại quê hương Nam Định,
một tuyến phố mang tên ông –
như lời tri ân sâu sắc của người
dân miền Bắc dành cho người
con ưu tú đã hiến trọn đời mình
cho cách mạng.
Những con người từng làm
nên một thời đại hoa lửa ấy, nay
đa phần đã hóa thành phù sa, lặn
sâu vào lòng đất mẹ miền Tây.
Ông Tư Bình cũng đã đi một
chuyến đi dài về với đồng đội từ
hơn hai mươi năm trước. Nhưng di sản ông để lại không nằm lại trong những ngăn
tủ kính nghiêm trang của bảo tàng. Nó đang sống, đang thở, và đang truyền lửa qua
từng nét mực, từng cái tên được ông tỉ mẩn cứu chuộc khỏi sự lãng quên của thời
gian.
Ngày nay, để tiếp tục hành trình giúp đời giúp người thì thế hệ con cháu của
ông lập ra quỹ học bổng mang tên Vũ Đình Liệu do bà Vũ kiều Nữ - con gái ông
làm đại diện. Hành trình quỹ học bổng Vũ Đình Liệu đã mang đến nhiều cơ hội cho
trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
vươn lên trong học tập, thắp
sáng cho biết bao phận đời éo le.
Những tấm lòng ấy thật trân quý
biết bao!
Từ câu chuyện cuộc đời ông,
thông điệp gửi đến thế hệ trẻ
hôm nay thật rõ ràng: “Hãy nhớ
lịch sử, học hỏi tinh thần, tiếp
tục cống hiến.” Đó không chỉ là lời nhắc nhở gìn giữ truyền thống mà còn là lời
mời gọi mỗi người trẻ bước tiếp trên con đường xây dựng đất nước bằng tri thức, ý
chí và trách nhiệm công dân.
Để tinh thần “thời hoa lửa” không chỉ dừng lại trong ký ức, mỗi cá nhân – từ
học sinh, giáo viên đến người dân – đều có thể góp phần lan tỏa giá trị tốt đẹp ấy.
Khi mỗi chúng ta chung tay giữ gìn và lan tỏa những giá trị đó, “thời hoa lửa” sẽ
không còn là quá khứ xa xôi, mà sẽ trở thành nguồn động lực để sống tốt hơn,
học tốt hơn, và cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng và Tổ quốc.
Vị Thanh 1, ngày 22 tháng 07 năm 2026
Người viết bài
Đậu Thị Thủy


