Tiểu đội trưởng Nhị đa năng
Tiểu đội trưởng Nhị đa năng Tháng 2-1972, tôi vào chiến trường Nam Lào và được bổ sung về Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 9, Sư đoàn 968 Quân tình nguyện Việt-Lào. Trong trung đội tôi có anh Cao Xuân Nhị người Quốc Oai, Hà Tây (nay là Hà Nội). Anh hơn tôi khoảng 10 tuổi, trước ngày nhập ngũ là công nhân lâm trường. Bắt sống xe tăng địch Tôi nhớ sau ngày ký kết Hiệp định Vientiane, Tiểu đoàn của chúng tôi về vị trí đóng quân mới và tổ chức làm doanh trại. Lúc này, anh Nhị mới phát huy được sở trường từ ngày anh làm công nhân lâm nghiệp. Anh Nhị thành thợ cả của Đại đội, hướng dẫn anh em các trung đội từ chuyện chặt gỗ, đục mộng, làm vì kèo dựng nhà đến chuyện cắt tranh, đánh gianh lợp mái. Anh chỉ dạy hết các công đoạn, còn chúng tôi chia nhóm học từng mục. Gần chục căn nhà gỗ 3 gian dựng trong rừng chỉ trong 3 tuần đã xong. Nhìn những nếp nhà ấy, tôi sung sướng vì không ngờ lính ta có thể làm ra, trong đó có mình. Cuối năm 1973, Tiểu đoàn rồi Trung đoàn tổ chức thi văn nghệ. Anh Nhị lại cùng mấy chiến sĩ khác kiếm vỏ thùng lương khô, ống bơ, thân cây vầu và những sợi dây thép tự chế đàn ghi-ta, đàn bầu rồi cùng nhau luyện tập. Ghi-ta phật phừng nhưng rất đúng nốt nhạc, còn đàn bầu thì nghe da diết, say đắm vô cùng. Tôi cảm phục anh Nhị, trai làng Quốc Oai, mấy năm làm lâm nghiệp mà sao lắm tài lẻ thế! Rồi anh còn tự làm sáo trúc nữa. Mất 3 tuần tập tọe, tôi cũng thổi được bài “Anh vẫn hành quân” của nhạc sĩ Huy Du. Đội trưởng Cao Xuân Nhị lựa chọn mấy chiến sĩ tham gia các tiết mục hòa tấu, ca hát và ngâm thơ. Lọc cọc thế mà rồi tiết mục văn nghệ của Đại đội tôi lại giành giải nhất Tiểu đoàn, thi ở Trung đoàn đoạt giải nhì. Đời sống tinh thần của chúng tôi lên rất cao, ai cũng hồ hởi. Đón thêm đợt tân binh, truyền cảm hứng cho họ, đầu năm sau, Đại đội tôi lên đường về miền Nam chiến đấu đủ quân số. Chiến trường Tây Nguyên (B3) rất gian khổ và thiếu thốn. Những lúc ở phía sau, chúng tôi tranh thủ phát những mảnh rẫy nhỏ để trồng sắn. Nhưng trước khi có sắn ăn,

Tiểu đội trưởng Nhị đa năng
Tháng 2-1972, tôi vào chiến trường Nam Lào và được bổ sung về Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 9, Sư đoàn 968 Quân tình nguyện Việt-Lào. Trong trung đội tôi có anh Cao Xuân Nhị người Quốc Oai, Hà Tây (nay là Hà Nội). Anh hơn tôi khoảng 10 tuổi, trước ngày nhập ngũ là công nhân lâm trường.
Tôi nhớ sau ngày ký kết Hiệp định Vientiane, Tiểu đoàn của chúng tôi về vị trí đóng quân mới và tổ chức làm doanh trại. Lúc này, anh Nhị mới phát huy được sở trường từ ngày anh làm công nhân lâm nghiệp. Anh Nhị thành thợ cả của Đại đội, hướng dẫn anh em các trung đội từ chuyện chặt gỗ, đục mộng, làm vì kèo
dựng nhà đến chuyện cắt tranh, đánh gianh lợp mái. Anh chỉ dạy hết các công đoạn, còn chúng tôi chia nhóm học từng mục. Gần chục căn nhà gỗ 3 gian dựng trong rừng chỉ trong 3 tuần đã xong. Nhìn những nếp nhà ấy, tôi sung sướng vì không ngờ lính ta có thể làm ra, trong đó có mình.
Cuối năm 1973, Tiểu đoàn rồi Trung đoàn tổ chức thi văn nghệ. Anh Nhị lại cùng mấy chiến sĩ khác kiếm vỏ thùng lương khô, ống bơ, thân cây vầu và những sợi dây thép tự chế đàn ghi-ta, đàn bầu rồi cùng nhau luyện tập. Ghi-ta phật phừng nhưng rất đúng nốt nhạc, còn đàn bầu thì nghe da diết, say đắm vô cùng. Tôi cảm phục anh Nhị, trai làng Quốc Oai, mấy năm làm lâm nghiệp mà sao lắm tài lẻ thế! Rồi anh còn tự làm sáo trúc nữa. Mất 3 tuần tập tọe, tôi cũng thổi được bài “Anh vẫn hành quân” của nhạc sĩ Huy Du. Đội trưởng Cao Xuân Nhị lựa chọn mấy chiến sĩ tham gia các tiết mục hòa tấu, ca hát và ngâm thơ. Lọc cọc thế mà rồi tiết mục văn nghệ của Đại đội tôi lại giành giải nhất Tiểu đoàn, thi ở Trung đoàn đoạt giải nhì. Đời sống tinh thần của chúng tôi lên rất cao, ai cũng hồ hởi. Đón thêm đợt tân binh, truyền cảm hứng cho họ, đầu năm sau, Đại đội tôi lên đường về miền Nam chiến đấu đủ quân số.
Chiến trường Tây Nguyên (B3) rất gian khổ và thiếu thốn. Những lúc ở phía sau, chúng tôi tranh thủ phát những mảnh rẫy nhỏ để trồng sắn. Nhưng trước khi có sắn ăn, anh Nhị lại mò vào rừng rồi hướng dẫn chúng tôi đào củ mài cải thiện. Trong suy nghĩ của chúng tôi, anh Nhị là người của núi rừng, hiểu biết của anh giúp chúng tôi an tâm vượt qua cả thời gian khó.
Trong Chiến dịch Tây Nguyên, trận đánh phục kích cắt Đường 14 chiều 7-3-1975, Tiểu đội trưởng Cao Xuân Nhị là người dùng súng B41 bắn cháy chiếc xe GMC chở quân đầu tiên trong đội hình của địch đang hành quân từ Pleiku xuống tăng cường cho Buôn Ma Thuột. Trận đánh ấy, Trung đoàn 9 chúng tôi tiêu diệt gần 1 tiểu đoàn địch, hoàn thành nhiệm vụ cắt Đường 14, cô lập Buôn Ma Thuột, để đến ngày 10-3-1975, đại quân ta tấn công thị xã. Anh Nhị được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Cũng trận đánh ấy, anh bị thương, phải chia tay đơn vị.
Sau kết thúc chiến tranh vài năm, trở về nhà, tôi mới được gặp lại anh Nhị. Lần đầu tiên tôi được về Sài Sơn, đến thăm chùa Thầy, quê anh Nhị ở đó. Anh Nhị về làng, xin ra vùng đất bãi ngoài sông Đáy dựng nếp nhà tranh và vỡ đất trồng táo. Cuộc sống vài năm đầu khấm khá, nhưng về sau đâu đâu cũng trồng táo, những bãi táo ven sông Đáy tàn dần. Anh Nhị lại trở về với cây lúa, con trâu.
Nặng tình đồng đội, ngoài làm Chi hội trưởng cựu chiến binh của thôn, anh còn làm Trưởng ban liên lạc đồng ngũ trong huyện. Thế là nhiều năm, vào dịp hội chùa Thầy đầu tháng Ba âm lịch, anh lại nhắn những người lính Đại đội 6 chúng tôi về chơi. Chúng tôi về dự hội rồi vào thăm nhà và cùng anh đi thăm các bạn trong Tiểu đoàn năm xưa ở xã. Nhiều lần như thế mới biết Chi hội trưởng cựu chiến binh Cao Xuân Nhị giúp đỡ đồng đội rất nhiều, uy tín cao. Chưa cần đến quỹ bảo trợ xã hội kêu gọi, anh Nhị đã tự lập chương trình giúp đỡ đồng đội có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ từ canh tác vườn nhà, đào ao thả cá hay chuyển đổi giống cây trồng từ rất sớm. Mỗi lần về Sài Sơn thăm anh Nhị và đồng đội lại thấy cuộc sống của mọi người ổn định, tốt hơn. Nhìn cái vẻ xăm xắn của anh Nhị trong mọi công việc, tôi vẫn thấy bóng dáng của người lính trong anh!


