tình đồng đội
Họ gọi tiểu đội của mình là “tiểu đội con gái” – không phải vì yếu đuối, mà vì trong rừng sâu bom đạn ấy, họ chỉ có nhau như chị em ruột.
Năm đó, cả năm người đều chưa ai tròn hai mươi.
Cô Ba là tiểu đội trưởng, lớn tuổi nhất, hai mươi ba. Tóc lúc nào cũng cắt ngắn, nói năng gọn gàng. Cô hay nghiêm, nhưng đêm nào cũng lặng lẽ chia phần gạo của mình cho mấy đứa nhỏ hơn.
Con Hạnh nhỏ nhất đội, mười bảy tuổi, da trắng, hay cười. Nó nói:
– Em đi thanh niên xung phong cho biết đất nước mình dài tới đâu.
Bà Năm thì hay bị gọi là “chị Năm”, dù mới mười chín. Chị khéo tay, vá áo nhanh nhất đội, lại có giọng ru rất êm. Đêm nào bom xa, mấy đứa cũng giục:
– Chị Năm ru đi, ru nhỏ thôi nghen!
Còn Lan với Thủy – hai đứa bằng tuổi nhau – lúc nào cũng dính như sam, đi đâu cũng nắm tay.
Cuộc sống của họ xoay quanh con đường và hố bom. Ban ngày chui hầm, tối mới ra làm. Bùn đất bám đầy tóc tai, áo quần. Có hôm Lan thở dài:
– Hết chiến tranh chắc tụi mình khỏi cần soi gương luôn.
Thủy cười hì hì:
– Soi chi, nhìn nhau quen rồi, khỏi cần đẹp.
Cô Ba nghe vậy, nghiêm giọng:
– Đẹp chớ. Con gái mà. Bom đạn không làm mình xấu được.
Nói vậy thôi, chứ đêm đến, cả đội nằm sát nhau trong hầm chữ A, nghe bom nổ mà tim muốn nhảy ra ngoài. Con Hạnh run run:
– Chị Ba ơi… lỡ trúng bom thì sao?
Cô Ba nắm chặt tay nó:
– Thì mình nằm chung. Không ai lạc ai hết.
Câu nói đó, về sau, ai cũng nhớ.
Một lần, Lan bị mảnh đất đá cứa vào chân. Máu thấm ướt ống quần. Thủy tái mặt:
– Chết rồi, để em cõng chị!
Lan gắt khẽ:
– Cõng cái gì, bộ chị què hả?
Nhưng đến lúc đứng lên không nổi, Lan bật khóc. Bà Năm xé vội vạt áo mình băng lại, vừa làm vừa dỗ:
– Khóc chi, tụi mình còn nguyên đủ năm đứa nè, vậy là hên rồi.
Con Hạnh đưa bi đông nước:
– Uống đi chị Lan, em chừa cho chị đó.
Lan nắm tay Hạnh:
– Mai mốt hết chiến tranh, chị dẫn em đi ăn bánh xèo thiệt bự.
Hạnh cười, mắt long lanh:
– Nhớ nghen, chị hứa đó!
Đêm định mệnh xảy ra vào một tối mưa dầm. Máy bay đánh liên tục. Con đường vừa lấp xong lại bị khoét sâu. Cô Ba hô:
– Ra làm! Xe sắp tới rồi!
Bà Năm kéo tay Hạnh:
– Sát chị nghen, đừng chạy lung tung.
Hạnh gật đầu:
– Em biết rồi, chị Năm đừng lo.
Tiếng nổ chát chúa. Đất đá văng mù mịt. Khi yên lại, bà Năm hoảng hốt:
– Hạnh đâu rồi?!
Lan và Thủy cùng gọi:
– Hạnh ơi! Trả lời đi em!
Không tiếng đáp.
Họ đào bằng tay không. Móng tay bật máu. Cuối cùng, tìm thấy Hạnh dưới lớp đất ướt. Người nhỏ bé, lạnh dần.
Bà Năm ôm Hạnh vào lòng, giọng vỡ ra:
– Em nói may đồ cho chị mà… sao bỏ chị vậy Hạnh…
Lan quay mặt đi, khóc không thành tiếng. Thủy bám lấy vai Lan, cả hai run bần bật.
Cô Ba đứng rất lâu. Rồi cô nói, giọng trầm nhưng dứt khoát:
– Mình đưa Hạnh lên mép rừng. Xong… quay lại làm tiếp.
– Chị Ba! – Lan bật lên – Nó mới mười bảy tuổi!
Cô Ba cắn chặt môi:
– Chị biết. Nên mình phải làm. Cho Hạnh.
Sau đêm đó, tiểu đội chỉ còn bốn người. Hầm vẫn chật như cũ, nhưng lạnh hơn. Không còn ai xin ru, không còn tiếng cười khúc khích.
Một tối, Thủy thì thầm:
– Hay là… mình đặt tên con đường này là đường Hạnh ha?
Lan gật đầu, nước mắt rơi xuống đất:
– Ừ. Để ai đi qua cũng nhớ.
Bà Năm khẽ nói:
– Tụi mình sống, là mang theo phần của Hạnh nữa.
Cô Ba quay sang nhìn từng người:
– Nhớ nghen. Sau này còn gặp lại, ai cũng phải kể cho người khác nghe… tụi mình đã từng có nhau như vậy.
Nhiều năm sau, chiến tranh kết thúc. Họ mỗi người một nơi. Có người lập gia đình, có người ở vậy. Nhưng cứ tới ngày ấy, họ lại tìm cách gặp nhau, ngồi bên con đường năm xưa.
Bà Năm hay nói:
– Thanh niên xung phong tụi tui không nổi tiếng. Nhưng tụi tui có tình bạn… bom không phá nổi.
Và ở đâu đó, trên con đường cũ, ký ức về những cô gái tuổi mười chín vẫn còn – trẻ trung, gan lì, và thương nhau đến tận cùng.



