Tình quân dân giữa “Làng Đỏ”
Kể từ tháng 3-1965 đến năm 1972, dân quân của thôn Long Đại liên tục đưa bộ đội qua sông. Hằng đêm tại trận địa bến phà cũng như dọc theo thôn Long Đại cho tới hết xóm 4 của thôn liên tục hứng chịu hằng trăm nghìn trận bom Mỹ dội xuống nhằm ngăn chặn quân ta sang sông. Ngoài lứa tuổi trung niên đưa đò qua sông, còn rất nhiều thiếu niên quân tuổi từ 15-16 làm giao liên dẫn đường, mang vác quân tư trang, súng đạn cho bộ đội dẫn bộ đội về làng thu quân.
Thôn Long Đại có chiều dài khoảng 3 km, rộng từ bến sông lên giáp đường 15A khoảng 1 km. Làng nhỏ được bao trùm là bến phà, đường 15A, dưới dòng sông thì bom thủy lôi, bom từ trường, phía sau làng là pháo cao xạ chốt, xe pháo. Bốn phía là mục tiêu của địch bao vây. Trong ngôi làng trơ trụi cây cỏ khô vì hứng chịu bom đạn, dưới lòng đất, người dân Long Đại vẫn ngày đêm nấu cháo nuôi bộ đội để chờ đưa qua sông.
Long Đại là nơi đóng quân của đơn vị cầu phao, đơn vị bệnh viện, đơn vị pháo, đơn vị thanh niên xung phong… Các đơn vị này đều tổ chức kết nghĩa với lực lượng dân quân để khi xảy ra chiến đấu, có lệnh thì dân quân thanh niên xung phong lên đường hỗ trợ. Cụ Nguyễn Viết Thỉ (78 tuổi) kể, 19 thanh niên xung phong hy sinh tại đây đều do lực lượng dân quân thanh niên xung phong mai táng. “Dù các liệt sĩ nằm xuống không còn nguyên vẹn, chúng tôi cũng cố gắng hết mình để chôn cất các đồng chí nguyên vẹn”, cụ Thỉ kể.

Năm 1972, khi lực lượng bị thiệt hại lớn, các đơn vị bộ đội đã thay đổi kế hoạch chiến đấu. Một nửa quân số chiến đấu, một nửa về làng Long Đại để bảo toàn lực lượng. Bấy giờ, trong mỗi nhà của người dân Long Đại đều phải đào hai hầm, mỗi hầm ở xen kẽ bộ đội và dân làng để nuôi quân, để nếu bị đánh bom một hầm, thì hầm kế bên vẫn còn bộ đội và người nuôi quân. “Tình cảm quân dân thật sự thắm thiết. Chúng tôi nấu cơm, giặt giũ, chăm sóc họ như người trong gia đình. Ngày ấy, dù chúng tôi không bước ra khỏi lũy tre làng bao giờ, nhưng lại có cảm giác được đi rất nhiều nơi qua những câu chuyện của các anh bộ đội”, mệ Diệp nhớ lại.
Năm 1966 – năm Mỹ ném bom điên cuồng hòng chặn đứng con đường huyết mạch Trường Sơn đoạn phà Long Đại, phà bị chìm, nhiều xe vận tải chìm dưới sông. Tối đó, gần 30 người làng Long Đại đi cứu phà, cứu xe, cứu lương thực và cố gắng vớt phà đưa đi giấu trên Rào Đá. Bom đạn làm sóng nước nổi dữ dội, anh chị em ngụp lặn trong nước. Trong những nỗ lực cuối cùng kéo phà vào bờ, một quả bom rơi xuống. Mọi người kịp nhảy ra khỏi phà, duy chỉ có bà Phan Thị Bán và Nguyễn Thị Tuế vẫn còn vướng trên phà, chỉ kịp ẩn dưới gầm phà.

Trong cuộc cứu vớt phà lịch sử đó, chiến sĩ Bảng (Lệ Thủy, Quảng Bình) là bộ đội lái ca nô cứu gần 30 quân dân của Long Đại vào bờ an toàn. Trong khi quay lại cứu hai o thanh niên xung phong bị kẹt trên phà, chiến sĩ Bảng đã bén duyên với o Phan Thị Bán. Họ đã bên nhau, cùng bước qua gần 10 năm bom đạn ác liệt và đã có một đám cưới giản dị. Và điều may mắn, là chiến tranh đã không chia lìa đôi uyên ương này. Sau chiến tranh, o Phan Thị Bán đã theo chồng về Lệ Thủy.
Bom đạn Mỹ đã khiến hàng nghìn người nằm lại mảnh đất Quảng Bình. Có những cuộc tình, chỉ vừa mới nhen nhóm, đã vội âm dương cách biệt. Bà Phan Thị Thuật kể cho chúng tôi nghe về cuộc tình đẹp đẽ nhưng ngắn ngủi của của anh bộ đội tên Thanh và o thanh niên xung phong Tâm. Chiến sĩ Thanh (quê Thanh Hóa) có nhiệm vụ làm quan trắc địa tại Long Đại. Trong khi đang đào hầm, anh bị bom vùi lấp. May mắn cho anh, mũ chụp đồng đã giúp anh cho anh có thể thở thoi thóp để chờ đồng đội cứu. Sau hai giờ đào bới, anh được tìm thấy trong tình trạng ngạt thở, được cấp cứu kịp thời. Vậy là dân quân Long Đại đã “sinh” ra anh lần thứ hai. Và từ đây, anh nảy nở tình yêu với o thanh niên xung phong Tâm. Nhưng cuộc tình đẹp đẽ vừa mới chớm, o Tâm đã nằm lại đất mẹ sau một trận bom Mỹ.



