Tô Hiệu
Hoàng Anh Đức
Tô Hiệu (1912 – 7 tháng 3 năm 1944) là một nhà cách mạng cộng sản Việt Nam, từng giữ chức Bí thư Thành ủy Hải Phòng từ năm 1938 đến năm 1939.
Thân thế
Tô Hiệu sinh năm 1912, là con út trong một gia đình nhà nho nghèo ở thôn Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên).[1]
Giai đoạn 1924–1926, Tô Hiệu học Tiểu học tại trường Pháp Việt thị xã Hải Dương và sớm tham gia vào các phong trào yêu nước của học sinh như để tang cụ Phan Chu Trinh nên mặc dù học rất giỏi vẫn bị đuổi học.[2] Sau đó ông được anh cả Tô Tu đưa lên học tại Hà Nội.[1]
Giai đoạn 1927–1929, ông lên Hà Nội, ở nhà anh cả Tô Tu để học cao đẳng tiểu học. Năm 1929, ông tham gia Học sinh đoàn, một tổ chức thuộc Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội.[1]
Hoạt động cách mạng
Cuối năm 1929[1][2] hoặc 1930, ông vào Sài Gòn hoạt động yêu nước cùng anh ruột là Tô Chấn, một lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng. Năm 1930, ông bị bắt và bị kết án 4 năm tù, đày đi Côn Đảo. Tại đây ông được giác ngộ chủ nghĩa Cộng Sản, được kết nạp Đảng và được bồi dưỡng trở thành một đảng viên trẻ nhiều triển vọng.[3]
Năm 1934, Tô Hiệu mãn hạn tù, bị thực dân Pháp quản thúc tại làng Xuân Cầu.[2] Không chịu sự quản thúc của chính quyền thực dân ở địa phương, ông vẫn tích cực hăng hái hoạt động, chắp nối xây dựng các cơ sở cách mạng, đẩy mạnh phong trào yêu nước ở các địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên và tại quê hương.[2] Đặc biệt, năm 1937, ông cùng với các đồng chí khác vận động tổ chức khôi phục lại Xứ ủy Bắc Kỳ và được cử vào Ban Thường vụ, phụ trách công tác tổ chức và tuyên truyền.
Đầu năm 1939, Tô Hiệu được phân công làm Bí thư khu B (bao gồm các tỉnh Duyên hải Bắc Bộ và Hải Dương, Hưng Yên), đặc trách Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Tại Hải Phòng, Tô Hiệu đã đưa phong trào lên rất cao, số lượng các cuộc bãi công của bảy tháng năm 1939 lớn hơn tổng số cuộc bãi công của ba năm trước, trong đó có cuộc bãi công của 3000 công nhân nhà máy tơ được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc báo các Quốc tế Cộng sản là cuộc đấu tranh có kỷ luật, có tổ chức cao.[4] Tại đây ông đã có công bồi dưỡng, phát hiện đào tạo nhiều thanh niên Cách mạng trở thành Đảng viên và sau này là những cán bộ quan trọng của Đảng như nguyên Thường trực Ban Bí thư Nguyễn Thanh Bình, Bí thư phụ nữ đầu tiên Hoàng Ngân, Bộ trưởng Lương thực Thực phẩm Ngô Minh Loan, Phó Chủ tịch tổng Công đoàn Trương Thị Mỹ, Phó Tổng Tham mưu trưởng Đặng Kinh, Trưởng phòng Tình báo đầu tiên Đào Phúc Lộc, v.v..[5]
Ngày 1 tháng 12 năm 1939, Tô Hiệu đến cơ sở in ở xóm thợ Thượng Lý (Hải Phòng) kiểm tra việc in truyền đơn chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới thì bị bắt. Mặc dù bị tra tấn dã man, ra sức mua chuộc, chuyển qua hết đề lao Hải Phòng tới Hỏa Lò (Hà Nội), nhưng ông không chịu khai báo. Cuối tháng 12 năm 1939, ông bị thực dân Pháp kết án 5 năm tù, đày đi Sơn La. Cũng thời gian này, Chi bộ Nhà tù Sơn La được thành lập. Tháng 2 năm 1940, Tô Hiệu được cử làm Chi ủy viên. Tháng 5 cùng năm, Đại hội Chi bộ bí mật được triệu tập, quyết định các chủ trương, công tác và cử Tô Hiệu làm Bí thư Chi bộ.[1] Trong tù, với cương vị Bí thư chi bộ nhà tù, ông đã cùng Chi ủy lãnh đạo phong trào đấu tranh, biến nhà tù thành trường học Cách mạng, đào tạo được hàng trăm cán bộ cốt cán cho Đảng phục vụ kịp thời cho Cách mạng tháng Tám. Tháng 5 năm 1941, ông và Chi bộ Nhà tù Sơn La xuất bản tờ báo Suối Reo.[2] Đến tháng 10 năm 1941, ông tuy thôi không giữ chức Bí thư Chi bộ nhà tù nữa, nhưng vẫn là cố vấn đặc biệt tin cậy của Chi ủy và là Trưởng ban huấn luyện, đào tạo cán bộ của nhà tù.[1]
Ông mất lúc 10 giờ 15 phút ngày 7 tháng 3 năm 1944 tại nhà tù Sơn La do chế độ hà khắc của nhà tù và bị lao phổi. Mộ ông được an táng tại nghĩa trang liệt sỹ nhà tù Sơn La.[1]



