Anh hùng Lực lượng vũ trang

Tô Vĩnh Diện - người anh hùng lấy thân cứu pháo

Câu chuyện kể về 1 chiến sĩ đã dũng cảm lấy thân mình chèn pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Thái Nguyên03/04/2026Trịnh Thị Lâm (Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Việt Nam ta đã phải trải qua những năm tháng sống dưới sự ách đô hộ của thực dân, đế quốc, ...đất nước đã trải qua những năm tháng sống bom rơi, đạn lạc thiếu thốn đủ đường. Và đã có biết bao nhiêu thế hệ cha ông ngã xuống những mảnh đất lạnh lẽo, bom rơi đấy để đổi xương máu của mình lấy nền hoa bình độc lập như ngày hôm nay.

Tiêu biểu trong trận đánh làm lên trang sử hào hùng, lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu - chiến dịch “Điện Biên Phủ” (1954) đã có biết bao tấm gương anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn xuân xanh. Họ, những người chiến sĩ mang trên mình một tình yêu Tổ Quốc, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong số đó hình ảnh người anh hùng Tô Vĩnh Diện lấy người chèn pháo đã trở thành một hình ảnh mãi khắc sâu trong lòng thế hệ trẻ.

Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924, quê ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Nhà Diện rất nghèo, lên 8 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ. Suốt 12 năm đi ở, anh đã phải chịu đựng bao cảnh áp bức bất công. Cách mạng Tháng Tám thành công, Diện thoát cảnh đi ở. Năm 1946, anh tham gia dân quân ở địa phương, đến năm 1949, Tô Vĩnh Diện xung phong vào bộ đội. Những ngày đầu trong quân ngũ, Tô Vĩnh Diện luôn luôn gương mẫu đi đầu trong học tập và công tác.

Tháng 5-1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ chuẩn bị cho đánh lớn, Tô Vĩnh Diện được điều làm Tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ... Pháo cao xạ lúc này là loại vũ khí hiện đại, có lá chắn phía trước, tầm bắn tối đa 6.700m, tầm bắn hiệu quả 2.500 đến 3.000m. Khẩu đội có bảy pháo thủ: Số 1 quay hướng, số 2 quay tầm và đạp cò, số 3 cự ly, số 4 hướng đường bay, góc bổ nhào và tốc độ, số 5 nạp đạn, số 6 tiếp đạn, số 7 dự bị và lo đạn. Trong quá trình hành quân cơ động trên chặng đường hơn 1.000km tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, anh luôn nhận những nhiệm vụ khó khăn, nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội kéo pháo đến nơi an toàn. Trong lúc kéo pháo qua những chặng đường nguy hiểm, cũng như nghỉ dọc đường, anh luôn nhắc nhở đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng con dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh những bất ngờ xảy ra.

Đông Xuân 1953 - 1954, không khí chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra vô cùng khẩn trương. Giữa lúc đơn vị pháo cao xạ đang khao khát được ra tiền tuyến đọ sức với không quân địch, đồng chí Tô Vĩnh Diện vừa trải qua một đợt ốm nặng tại quân y viện. Ngay khi vừa ra viện, anh lập tức trở về đơn vị để cùng đồng đội hành quân lên Điện Biên Phủ.

Cuộc hành quân là một thử thách phi thường đối với sức chịu đựng của con người. Những khẩu pháo nặng hàng tấn phải tháo khỏi xe, thay bằng sức người để kéo qua hàng trăm cây số đường rừng núi hiểm trở. Sau hơn một tuần gian khổ vượt dãy Pa Sông vào chiếm lĩnh trận địa tại bản Tấu, đơn vị bất ngờ nhận lệnh: Kéo pháo ra. Dù hoang mang trước thay đổi đột ngột (từ phương châm "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc"), Tô Vĩnh Diện và các đồng chí vẫn tuyệt đối tin tưởng vào Bộ Tổng tư lệnh, kiên định thực hiện nhiệm vụ mới.

Nếu kéo pháo vào đã khó, thì kéo pháo ra còn gian truân và nguy hiểm gấp bội. Quân ta phải di chuyển trong đêm tối mịt mùng để giữ bí mật, trên những con đường mới mở mấp mô, gập ghềnh. Một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực thẳm sâu hoắm.

Mọi hoạt động điều khiển pháo đều dựa vào sức người và những công cụ thô sơ: dây tời, hòn chèn, và chiếc mõ tre điều lệnh. Những tiếng hô "Hai... ba... nào! Dô ta nào!" vang lên trong đêm, hòa cùng tiếng thở dồn dập và mùi mồ hôi mặn chát. Tô Vĩnh Diện đảm nhiệm vai trò chiến sĩ lái càng, một vị trí cực kỳ nguy hiểm, đòi hỏi sự dũng cảm và tập trung cao độ để giữ cho pháo đi đúng đường, không bị hất xuống vực.

Thử thách lớn nhất nằm ở Dốc Ba Tời – nơi dốc đứng ba bậc, vực sâu và đường vòng hiểm ác. Khi chỉ còn cách đường bằng khoảng 2km, pháo địch bắt đầu bắn phá dữ dội vào khu vực kéo pháo. Đất đá bắn tung tóe, khói đạn mù mịt, nhưng khẩu hiệu "Còn người còn pháo" đã trở thành mệnh lệnh từ trái tim của mỗi chiến sĩ.

Trong lúc đang đổ dốc, một tình huống nghìn cân treo sợi tóc đã xảy ra: Một mảnh pháo địch bắn trúng, làm đứt dây tời. Khối thép khổng lồ mất đà, lao băng băng xuống dốc. Những hòn chèn lao vào bánh pháo đều bị hất văng. Các chiến sĩ bám dây bị kéo lê sềnh sệch trên mặt đất. Đồng chí Tri – người cùng lái càng với Diện – bị hất vào vách núi. Khẩu pháo lúc này như con ngựa bất kham, lao thẳng về phía vực sâu đen ngòm.

Trong giây phút sinh tử, Tô Vĩnh Diện đã có một quyết định phi thường. Anh hiểu rằng nếu pháo rơi xuống vực, công lao của hàng trăm con người sẽ đổ sông đổ biển, và hỏa lực của chiến dịch sẽ bị tổn thất nghiêm trọng.

Với ý chí "Thà hy sinh chứ không để mất pháo", anh đã dùng hết sức bình sinh đẩy mạnh càng pháo vào vách núi nhưng không cản nổi đà lao. Cuối cùng, Tô Vĩnh Diện đã buông tay lái, lao cả thân mình vào bánh pháo để làm vật cản. Khối thép nặng nề chồm lên, đè lên người anh và dừng lại ngay sát mép vực. Đồng đội lao đến ứng cứu, kéo pháo lùi lại để đưa anh ra, nhưng do vết thương quá nặng, người anh hùng trẻ tuổi đã trút hơi thở cuối cùng khi trái tim vẫn còn vẹn nguyên tình yêu với tổ quốc và khẩu pháo thân thương.

Ngày 7-5-1956, đồng chí Tô Vĩnh Diện được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và trở thành người anh hùng Pháo cao xạ đầu tiên của quân đội ta ngã xuống trên mặt trận Điện Biên Phủ. Hiện nay, hài cốt của đồng chí được Đảng và Nhà nước quy tập và an táng tại nghĩa trang Đồi A1, thành phố Điện Biên Phủ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn