Tôi được trả nghĩa Bác Hồ
Từ một công chức thời Pháp thuộc tham gia giành chính quyền ở Hà Nội và dự lễ Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 do Hồ Chí Minh đọc tại Ba Đình, tác giả đã “xếp bút nghiên” gia nhập Vệ quốc đoàn, học tại Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn và được chính Bác trao cờ “Trung với Nước – Hiếu với Dân”. Năm 1950, trong đội hình Trung đoàn 174, ông vinh dự tham gia bảo vệ Bác trên đường công tác qua Cao Bằng sang Trung Quốc. Những lần được gặp và làm nhiệm vụ bảo vệ Người trở thành dấu ấn thiêng liêng, là động l
Trước Cách mạng tháng 8/1945, thời Pháp thuộc tôi làm thư ký Sở Canh Nông Bắc Bộ - Tháng 10/1944, tôi hoạt động trong Đảng dân chủ Việt Nam (tại sở Canh Nông Bắc Bộ - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội) và tham gia hoạt động tiền khởi nghĩa, tham gia cướp chính quyền tại Hà Nội. Trong hàng ngũ của Viên chức cứu quốc, tôi được dự lễ Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình.
Tôi được nhìn thấy Bác Hồ và được nghe trọn vẹn bản Tuyên ngôn Độc lập mà Bác tuyên bố với đồng bào và thế giới.
Từ một người dân mất nước, tôi đã trở thành công dân của một nước độc lập tự do vì có Đảng, có Bác Hồ.
Năm 1946 đang làm thư ký thường trực ở Tổng hội viên chức cứu quốc, tôi xin tòng quân gia nhập Vệ quốc đoàn, để được trực tiếp tham gia đánh giặc cứu nước. Tôi được đi học ở trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn khóa I tại Sơn Tây - Ngày 26/5/1946 là ngày khai giảng khóa học. Bác Hồ với cương vị Chủ tịch nước đã lên dự lễ khai mạc và trao cho trường lá cờ thêu sáu chữ vàng "Trung với Nước - Hiếu với Dân".
Đây là lần thứ hai tôi nhìn thấy Bác đúng vào lúc tôi mới bước chân vào con đường binh nghiệp. Cùng với 300 học viên, tôi đã được nghe Bác giảng cho bài học đầu tiên:
Bác nói: - Trung với Nước, Hiếu với Dân là bổn phận thiêng liêng, là trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia của nước ta.
Trung với Nước, Hiếu với Dân là đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Lợi ích cơ bản nhất, cấp thiết nhất của nhân dân lúc này là: "Độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc". "Phải hết lòng hết sức đấu tranh thật sự đặt lợi ích đó.
Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Phải yêu nước, yêu đồng bào, yêu bộ đội mình.
Phải có đạo đức trí nhân dũng, cần kiệm liêm chính. Phải nhìn rộng, suy kỹ. Biết nuôi khí dân, biết định khí quân.
Học phải đi đôi với hành, học để mà hành, hành để mà học. Học có hành mới có tiến bộ.
Với cá nhân tôi, một thanh niên công chức "Xếp bút nghiên lên đường gia nhập Vệ quốc đoàn", được Bác bồi dưỡng cho bài học đầu tiên là một dấu ấn khó phai mờ, một hạnh phúc lớn khi bước vào cuộc đời binh nghiệp.
Vào cuối tháng 2/1950, trung đoàn 174 đã có vinh dự tổ chức một hành lang an toàn cho một phái đoàn Trung ương đi công tác qua Cao Bằng sang nước bạn Trung Hoa. Phái đoàn lấy tên là phái đoàn Trần Đăng Ninh. Trung đoàn 174 phải bảo vệ tuyệt đối an toàn từ thị xã Cao Bằng qua đèo Mã Phục - Quảng Uyên đến cầu Tà Lùng (Phục Hòa).
Khu vực tiểu đoàn 249 phụ trách thuộc địa phận Quảng Uyên đến giáp Phục Hòa, có nhiều đường tắt qua khe dãy núi đá mà bọn vượt biên buôn lậu hay qua lại. Dưới chân núi đá có làng, có hàng quán rải rác bán dọc đường. Người đi đường dừng chân thành các tụ điểm nghỉ ngơi đông người khó kiểm soát.
Theo yêu cầu của bảo vệ, ngoài việc bố trí theo dõi, canh gác các đường tắt, cầu cống, còn phải có các tổ đóng giả người dân đi buôn bán, cán bộ đi công tác làm tổ cơ động trên mặt đường để kịp ứng phó với mọi tình huống khẩn trương.
Nhận nhiệm vụ, tôi cứ phân vân suy nghĩ mãi. Phải là phái đoàn quan trọng của Trung ương. Có lẽ là đồng chí Tổng bí thư hoặc Thủ tướng hoặc là Bác Hồ đi ra nước ngoài chăng?
Đồng chí Trần Đăng Ninh thì đầu tháng 2 (10/2) tôi vừa bàn giao cho đồng chí ấy phái đoàn La Quý Ba (Trung Quốc) ở Quán Vuông Chợ Chu (Thái Nguyên).
Và cũng thật là tình cờ, có phần may mắn và có lẽ là một diễm phúc nữa: về chỗ đặt chỉ huy sở ở chân đèo, đang đứng quan sát người đi lại trên đường chỉ cách 50-60m thì tôi phát hiện:
Một tốp 3 người mặc quần áo chàm - đầu đội mũ nan vành rộng, vai đeo ba lô bộ đội như đoàn cán bộ đi công tác. Cụ già có tầm thước cao, chiếc khăn mặt che mất bộ râu. Cụ già thấp hơn đi bên phải, khăn mặt khoác vai, tôi nhận ngay ra Cụ Cấp mà tôi có lần đã gặp ở hang Lam Sơn (bên cơ quan tỉnh ủy Cao Bằng). Người đi bên trái là một trung niên, tôi nhận ngay ra là đồng chí Hoạt phó Bí thư tỉnh ủy Cao Bằng.
Thế cụ già đi giữa là ai? Mũ nan rộng vành che lấp cả vầng trán cao, khăn mặt che cả bộ râu và một nửa mặt nên tôi không thể nhận ra Bác được.
Trong trí nhớ của tôi gợi lên một dáng người quen thuộc mà tôi đã gặp đâu đó. Thôi đúng rồi: dáng đi này chỉ có thể là Bác Hồ, Người đã đến khai giảng lớp học Võ bị Trần Quốc Tuấn, sau đó còn đến hai lần nữa dặn dò khi mãn khóa.
Tôi vui sướng quá, vội gọi điện thoại cho anh An ở tiểu đoàn 251, thử xác minh xem tôi phát hiện có đúng không.
Anh An sau đó cũng khẳng định với tôi là Bác Hồ có ở trong đoàn. Đến cuối 3/1950, khi về nước, Bác qua biên giới Tĩnh Tây - Trùng Khánh, ngủ đêm tại trung đoàn bộ 174.
Được bảo vệ Bác qua Cao Bằng ra nước ngoài lần đầu sau Cách mạng tháng Tám là một vinh dự đối với tôi. Có chiến đấu ở 174, có hoạt động ở biên giới Cao Bằng mới có cơ hội này.
Tôi coi đây không chỉ là nhiệm vụ cấp trên giao mà là một dịp tôi được trả nghĩa với Bác Hồ vì Bác dạy dỗ tôi khi theo con đường binh nghiệp. Tôi coi lời Bác dặn là kim chỉ nam cho hành động trong suốt cuộc đời binh nghiệp.



