TRẦN ĐẠI NGHĨA – TỪ PHÒNG THÍ NGHIỆM CHÂU ÂU ĐẾN CHIẾN KHU VIỆT BẮC K21 LKT2
Trần Đại Nghĩa (1913-1997), tên thật là Phạm Quang Lễ, quê ở Vĩnh Long, tên Trần Đại Nghĩa là được Bác Hồ chọn cho ông với tâm ý chỉ những người làm việc lớn. Ông là Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng Lao động, Cục trưởng cục Quân giới, Nhà khoa học – kỹ sư quân sự hàng đầu của Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Được đào tạo rất bài bản và chuyên sâu về các ngành kỹ thuật – quân sự ở Pháp, là người đã đặt nền móng cho nền công nghiệp quốc phòng của Việt Nam trong thời kỳ khói lử
Bối cảnh lịch sử: Cách mạng tháng 8 thành công nhưng đất nước còn đói nghèo, chính quyền còn non trẻ lại đang đứng trước những âm mưu trở lại xâm lược của thực dân Pháp. Dân tộc Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử đầy thử thách. Khi việc đàm phán với Pháp có dấu hiệu không đi đến được sự đồng thuận của cả 2 nước thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn xa trông rộng, Bác đã nhìn được “...kháng chiến đến nơi rồi, đàm phán thế này chứ có đàm phán nữa cũng tan vỡ thôi...”. Khi được Bác Hồ mời về nước để phục vụ cho kháng chiến, Trần Đại Nghĩa đã từ bỏ công việc với mức lương cao và cuộc sống tiện nghi bên Pháp để trở về Việt Nam tham gia kháng chiến.
Ngày 19/12/1946 cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ.
Diễn biến: Trong bối cảnh ấy, sự trở lại và cống hiến của những người con xa quê, những tri thức lớn có ý nghĩa vô cùng to lớn, và Trần Đại Nghĩa chính là một trong những người con của mảnh đất hình chữ S đã lựa chọn quay về để phụng sự cho Tổ quốc. Lúc bấy giờ quân đội ta cực kỳ thiếu tốn khó khăn từ lương thực, vũ khí trang bị, hậu cần vật chất, trình độ kỹ thuật cho đến điều kiện tác chiến, giao thông vận chuyển. So với quân đội Pháp lúc đó được trang bị vũ khí hiện đại tiên tiến, được tổ chức huấn luyện chuyên nghiệp, hậu cần quân y luôn được sẵn sàng hỗ trợ thì có thể nói quân đội ta đang “lấy trứng chọi đá”, tương quan so sánh lực lượng chênh lệch giữa ta và địch là vô cùng lớn.
Trong hoàn cảnh đó, Trần Đại Nghĩa với điều kiện vô cùng thiếu thốn của chiến khu Việt Bắc đã có những đóng góp to lớn và hết sức cụ thể, do đã được tiếp nhận những khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất của Pháp ông đã xây dựng ngành quân giới từ con số 0, trực tiếp nghiên cứu, chế tạo và cải tiến vũ khí – ông đã trực tiếp sống và làm việc trong điều kiện khắc nghiệp của chiến tranh chứ không phải là sự chỉ đạo trên giấy bút. Trong suốt cuộc kháng chiến Trần Đại Nghĩa đã đảm bảo được nguồn vũ khí, đạn dược ổn định, chế tạo những vũ khí phù hợp với tính chất địa hình rừng núi đặc thù của nước ta như súng không giật, súng bazooka nhắm đánh vào xe tăng và lô cốt của địch, mìn, lựu đạn, đạn pháo,... để nhằm đáp ứng tính trường kỳ của cuộc kháng chiến. Chứng minh cho những đóng góp to lớn của cụ Trần Đại Nghĩa nói riêng và các vị anh hùng của dân tộc nói chung chính là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Chiến thắng này đã khiến cho cả nước Pháp bàng hoàng, chấn động và “chết lặng” trên cả chiến trường lẫn chính trường, đánh dấu sự kết thúc thực sự của chủ nghĩa thực dân Pháp ở châu Á.
Sau khi cuộc kháng chiến kết thúc, Trần Đại Nghĩa vẫn tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp quốc phòng và khoa học kỹ thuật quân sự đất nước. Đặt nền móng vững chắc cho nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam. “Từ phòng thí nghiệm châu Âu đến chiến khu Việt Bắc” không chỉ là hành trình về địa lý mà còn là hành trình dùng trí tuệ làm thành vũ khí để mang Độc lập – Tự do – Hạnh phúc về cho Tổ quốc của một Anh hùng Dân tộc.
Ý nghĩa lịch sử & chính trị: Sự góp mặt của Trần Đại Nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã khẳng định vai trò quan trọng của việc kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh tri thức. Cách mạng Việt Nam không chỉ là cuộc đấu tranh thuần vũ trang mà còn là cuộc vận động trí tuệ, nhân tài của đất Việt; chứng minh rằng tri thức không đứng ngoài lịch sử mà đã trực tiếp góp phần vào thắng lợi vẻ vang của lịch sử dân tộc. Khẳng định tinh thần yêu nước sâu sắc, tự hào là “con Rồng cháu Tiên” dù là đang ở xa quê hương nhưng chỉ cần Tổ quốc cần thì sẵn sàng từ bỏ những vinh hoa phú quý để quay trở về nhằm góp phần vào công cuộc dựng nước và giữ nước, phục vụ cho cách mạng. Với vị thế của một đất nước vừa dành được độc lập, bộ máy chính quyền non trẻ nhưng được sự hậu thuẫn to lớn của những nhân tài, giúp nhân dân có lòng tin vào chính quyền, vào các quyết định của chính quyền, chính là làm tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc; một dân tộc đoàn kết thì không một âm mưu xâm lược nào của thực dân, đế quốc có thể thành công. Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của Việt Nam không phải là cuộc chiến tự phát mà là cuộc đấu tranh có tổ chức, có chiến lược và sẵn sàng cho sự kháng chiến trường kỳ để bảo toàn lãnh thổ Việt Nam. Nhờ sự kiên cường bất khuất của các anh hùng dân tộc đã củng cố vị thế chính trị của Việt Nam trên bản đồ thế giới.
Di tích, di sản và tưởng niệm: Trần Đại Nghĩa là người đặt nền móng cho ngành quân giới, công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Ông không chỉ chế tạo vụ khí mà còn chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, truyền đi tinh thần nghiên cứu nghiêm túc, sáng tạo. Còn là hình mẫu cho việc tri thức đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu, bỏ qua những danh lợi cá nhân; khẳng định trí tuệ cũng là một mặt trận cách mạng, khoa học không chỉ để nghiên cứu mà còn để phục vụ cho chiến đấu và độc lập dân tộc. Ngoài ra ông còn là Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự nay là Học viện Kỹ thuật Quân sự và là Hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Bách Khoa Hà Nội, đặc biệt quan tâm đào tạo, phát hiện tài năng khoa học và những viên gạch đầu tiên cho sự phát triển của trường.
Lời kể thêm:
1. Sinh thời, Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã từng nói: “Bạn bè của tôi ở lại bên Pháp, họ đều sung sướng, đầy đủ hơn tôi rất nhiều. Nhưng về khía cạnh phụng sự Tổ quốc, họ chẳng có gì cả”.
2. Năm 1946, Bác Hồ sang Pháp gặp gỡ kiều bào Việt,
Bác hỏi Phạm Quang Lễ: “Chú về nước chế tạo vũ khí, cách mạng sẽ rất cần, rất khổ và thiếu thốn, chú có chịu nổi không?”
Phạm Quang Lễ đã thưa với Bác: “Thưa Bác cháu đã chờ ngày này suốt 11 năm trời”.
3. Ngày đất nước thống nhất 30/4/1975 Trần Đại Nghĩa đã ghi vào cuốn sổ tay của mình một câu: “Đã hoàn thành nhiệm vụ”.


