Trần Hưng Đạo – Vị anh hùng dân tộc kiệt xuất của Việt Nam
Trần Hưng Đạo tên thật là Trần Quốc Tuấn, sinh khoảng năm 1228, là con của An Sinh Vương Trần Liễu và thuộc hoàng tộc nhà Trần. Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, học rộng hiểu sâu và có chí lớn. Ông được học binh thư, rèn luyện võ nghệ và sớm bộc lộ tài năng quân sự xuất chúng.
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có nhiều vị anh hùng đã để lại dấu ấn sâu đậm. Trong số đó, Trần Hưng Đạo là một trong những nhân vật tiêu biểu nhất. Ông không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần đoàn kết dân tộc.
Trần Hưng Đạo tên thật là Trần Quốc Tuấn, sinh khoảng năm 1228, là con của An Sinh Vương Trần Liễu và thuộc hoàng tộc nhà Trần. Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, học rộng hiểu sâu và có chí lớn. Ông được học binh thư, rèn luyện võ nghệ và sớm bộc lộ tài năng quân sự xuất chúng.
Thế kỷ XIII là thời kỳ đầy thử thách đối với Đại Việt. Đế quốc Mông Cổ – sau này là nhà Nguyên – là một thế lực quân sự hùng mạnh, đã chinh phục nhiều quốc gia lớn ở châu Á và châu Âu. Đại Việt nhỏ bé đứng trước nguy cơ bị xâm lược và thôn tính. Trong hoàn cảnh đó, Trần Quốc Tuấn được vua Trần giao trọng trách Quốc công Tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội để bảo vệ đất nước.
Cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ năm 1258 tuy diễn ra trước khi ông giữ vai trò cao nhất, nhưng đến hai cuộc kháng chiến sau (1285 và 1288), ông là người trực tiếp chỉ huy. Dưới sự lãnh đạo của ông, quân và dân Đại Việt đã áp dụng chiến lược “vườn không nhà trống”, rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng, đồng thời tổ chức phản công đúng thời cơ.
Năm 1285, quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy tràn vào nước ta với lực lượng đông đảo. Tình thế lúc đầu rất khó khăn, nhưng Trần Hưng Đạo đã bình tĩnh chỉ huy quân dân kháng chiến. Ông cùng các tướng tài như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật… phối hợp chặt chẽ, giành những chiến thắng quan trọng ở Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, buộc quân Nguyên phải tháo chạy. Cuộc kháng chiến kết thúc với thắng lợi vang dội, bảo vệ vững chắc nền độc lập của Đại Việt.
Đỉnh cao trong sự nghiệp cầm quân của ông là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Ông cho nghiên cứu kỹ địa hình sông Bạch Đằng, cho đóng cọc gỗ nhọn bịt sắt xuống lòng sông, lợi dụng quy luật thủy triều để đánh úp đoàn thuyền chiến của quân Nguyên do Ô Mã Nhi chỉ huy. Khi thủy triều rút, thuyền giặc mắc cạn, quân ta đồng loạt tấn công. Kết quả là toàn bộ thủy quân địch bị tiêu diệt hoặc bắt sống. Chiến thắng này đã chấm dứt hoàn toàn ý đồ xâm lược Đại Việt của nhà Nguyên.


