Cựu Thanh niên xung phong

Trần Thị Thành

Trần Thị Thành

Hải Phòng24/08/2026Trường Ngoại ngữ - ĐHTN (Trường Ngoại ngữ - ĐHTN)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

THIẾU NỮ “THÉP” CỦA TUYẾN LỬA

Đó là câu chuyện về bà Trần Thị Thành, hiện sinh sống tại P. Đồng Sơn (Quảng Trị), nguyên là thanh niên xung phong tuyến lửa 12A. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, bà cùng đồng đội đã dâng hiến trọn tuổi xuân, thậm chí cả máu xương của mình để mở đường, đảm bảo mạch giao thông chi viện cho miền Nam.

Với những người từng đi qua tuyến lửa 12A, hình ảnh nữ thanh niên xung phong Trần Thị Thành đứng trên một quả bom nổ chậm, cất cao tiếng hát để động viên đồng đội đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm. Nay đã 80 tuổi, sống bình yên tại P. Đồng Sơn, bà vẫn nhớ rõ từng khoảnh khắc sinh tử trên con đường lửa năm xưa – nơi tuổi trẻ của bà và hàng trăm đồng đội đã phải đánh đổi bằng không ít máu xương.

Đại đội C759 được giao phụ trách 10km đường từ Khe Cấy đến Bãi Dinh. Trong đơn vị này, bà Thành (quê H. Tuyên Hóa, Quảng Bình cũ) lần lượt đảm nhiệm vai trò Đại đội phó rồi Chính trị viên đại đội. Đây là một trong những tọa độ hứng chịu hàng trăm tấn bom đạn nhằm cắt đứt tuyến giao thông chiến lược men theo dãy Trường Sơn đưa hàng hóa vào miền Nam. Nhiệm vụ của C759 là vừa san lấp hố bom, vừa mở đường mới, bảo đảm cho các đoàn xe chở gạo, vũ khí và bộ đội vượt qua an toàn. Khẩu hiệu của đơn vị khi ấy luôn vang lên: “Máu C759 có thể đổ, nhưng đường C759 không thể tắc”.

Bà Thành vẫn nhớ như in một đêm năm 1966, khi đối phương tập trung đánh phá đoạn Khe Ve, thả xuống 50 quả bom nổ chậm. Đường suối và sườn đồi bị tàn phá nặng nề, tuyến giao thông đứng trước nguy cơ bị tê liệt. Trong lúc đi kiểm tra hiện trường, bà cùng Đại đội trưởng công binh bị sức ép của một quả bom phát nổ hất văng xuống đường, nằm sát một quả bom chưa kích hoạt. Giữa tiếng động cơ xe và tiếng bom dội từ núi rừng, bà vẫn giữ được sự bình tĩnh để xử lý tình huống. Khi phát hiện quả bom nổ chậm nằm chắn ngay tuyến huyết mạch, bà nói ngắn gọn: “Để tôi đứng trên đó, nếu lò xo bom chuyển động, tôi sẽ hô”.

Sau đó, giữa khói bụi mịt mù, bà leo lên đứng trên quả bom, người thẳng, miệng hát lớn để trấn an tinh thần đồng đội đang khẩn trương san lấp. Tiếng hát vang lên giữa rừng núi như xua tan nỗi sợ hãi. Khi con đường tạm thời được thông, đoàn xe đi qua an toàn thì quả bom mới phát nổ, làm tung ngọn đồi phía sau. Đêm ấy, mọi người đều thừa nhận: “Chỉ có Thành ‘thép’ mới làm được việc đó”.

Sự khốc liệt ở tuyến lửa 12A không chỉ dừng lại ở những quả bom nổ chậm. Đồi 37 là nơi in đậm nhiều mất mát. Bà kể, mỗi khi xuất hiện “dấu” của đồng đội qua mùi hôi hay đàn ruồi nhặng bâu lại, đó là lúc mọi người hiểu rằng thêm một người nữa đã hy sinh.

Nhiều năm trôi qua, ký ức ấy vẫn là nỗi ám ảnh khó nguôi. Có những thi thể chưa kịp đưa lên thì bom lại trút xuống, vùi lấp tất cả. Những người còn sống buộc phải ra lệnh cho đoàn xe đi qua chính nơi đồng đội mình nằm lại. “Nghĩ đến mà đau lắm…, nhưng khi đó chiến trường quyết liệt, nhiệm vụ buộc phải thế”, bà nghẹn ngào.

Bà từng nói: “Bom nổ thì tôi bay, nhưng nếu tôi sợ thì chiến sĩ cấp dưới biết dựa vào ai?”. Suốt hơn nửa đời người, bà chưa bao giờ tự nhận mình là anh hùng, nhưng trong mắt đồng đội, bà mãi là “thiếu nữ thép của tuyến lửa”.

Những phẩm chất kiên trung ấy bắt nguồn từ một tuổi thơ đầy mất mát. Chín tuổi bà mất cha, mười tuổi mất mẹ khi em gái út mới tròn một tuổi. Ba chị em mồ côi nương tựa nhau, mót lúa sống qua ngày trong hoàn cảnh chiến tranh thiếu thốn đủ bề. “Mười mấy tuổi mà rắn rỏi lắm”, bà kể, ánh mắt vẫn đượm buồn khi nhắc lại quãng đời ấy.

Mười sáu tuổi, bà có mối tình đầu với một anh bộ đội cùng làng. Chưa kịp hẹn ước thì anh hy sinh vào năm 1965. Mất mát đó khiến trái tim cô gái trẻ đau đớn, nhưng cũng trở thành động lực để bà dấn thân mạnh mẽ hơn.

Năm 1968, em gái bà – Trần Thị Thế – theo chị lên tuyến 12A và hy sinh khi mới 17 tuổi. Một quả rốc két rơi xuống hầm ở đồi Ba Trại khiến thi thể em hòa vào đất đá. Đó là nỗi đau không bao giờ nguôi trong lòng người chị.

Dù vậy, bà Thành không cho phép mình gục ngã. Năm 1969, bà được điều về làm việc tại UBND tỉnh Quảng Bình cũ, sau đó ra Hà Nội học tập. Rồi bà công tác tại Trung ương Đoàn, trở về quê giữ chức Phó chủ tịch UBND H. Tuyên Hóa và sau đó làm việc tại UBND tỉnh, phụ trách lĩnh vực văn hóa – xã hội. Bà luôn tâm niệm: “Đảng thương mình lắm. Mình ít chữ nhưng Đảng giao việc thì phải làm cho tròn”.

Hơn 20 năm an dưỡng tuổi già, bà vẫn tích cực tham gia Hội Cựu TNXP tỉnh, làm công tác Hội Nghĩa tình Trường Sơn, đi nhiều nơi để gặp lại đồng đội cũ – người còn sống thì ôm nhau mừng rỡ, người đã mất thì thắp nén nhang tri ân.

Gia đình là bến đỗ bù đắp những tổn thương thời chiến. Bà lập gia đình, có bốn người con trưởng thành, ổn định cuộc sống. Chồng bà là một bác sĩ từng công tác tại Lào, đã qua đời gần 20 năm. Bà luôn cho rằng mình may mắn hơn nhiều đồng đội khác khi được chứng kiến con cháu sum vầy, đề huề.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn