Trọn đời son sắt thờ chồng
Gần nửa thế kỷ trôi qua, mỗi lần khúc ca khải hoàn vang lên trên đài phát thanh mừng ngày thống nhất đất nước, người vợ phi công Trần Nguyên Năm ở xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu (tỉnh Nghệ An) lại hướng đôi mắt còm cõi nhìn lên bầu trời cao như dõi theo hình bóng chồng, người mà 48 năm trước đã cùng với phi đội của mình quần nhau với máy bay của giặc Mỹ để bảo vệ bầu trời Hàm Rồng (Thanh Hóa) năm 1965. Đến trước lúc hy sinh, anh vẫn chưa kịp để lại cho người vợ trẻ một đứa con...
Gần nửa thế kỷ trôi qua, mỗi lần khúc ca khải hoàn vang lên trên đài phát thanh mừng ngày thống nhất đất nước, người vợ phi công Trần Nguyên Năm ở xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu (tỉnh Nghệ An) lại hướng đôi mắt còm cõi nhìn lên bầu trời cao như dõi theo hình bóng chồng, người mà 48 năm trước đã cùng với phi đội của mình quần nhau với máy bay của giặc Mỹ để bảo vệ bầu trời Hàm Rồng (Thanh Hóa) năm 1965. Đến trước lúc hy sinh, anh vẫn chưa kịp để lại cho người vợ trẻ một đứa con.
Bến quê ngày ấy, anh đi
Sinh ra ở hai làng cách nhau một con sông nhưng Trần Nguyên Năm (sinh năm 1932) và Phạm Thị Mai (sinh năm 1934) lại học cùng nhau dưới một mái trường. Ngày mới lớn, như bao lớp trai làng khác, anh Năm với dáng vẻ điển trai, cao to đã thương thầm, nhớ trộm cô bé Mai ít hơn mình 2 tuổi học lớp dưới. Hằng ngày, bến quê là nơi đi lại giữa hai làng, Trần Nguyên Năm lại cùng với Mai đi chung trên chuyến đò những buổi tan trường. Ngày ấy, tình yêu của tuổi trẻ còn e thẹn, ngại ngùng nhưng với tình cảm chân thành của mình, Trần Nguyên Năm cũng đã chinh phục được cô thôn nữ Phạm Thị Mai khi vừa tròn mười chín, đôi mươi. Đến đầu năm 1953, chị Mai và anh Năm được hai bên nội ngoại vun vén, rồi tổ chức một đám cưới giản dị, đơn sơ giữa làng quê thời chiến. Chỉ ở với nhau được một thời gian ngắn, tháng 3-1953, Trần Nguyên Năm tình nguyện nhập ngũ, tham gia bộ đội chống Pháp ở Điện Biên Phủ.
|
Di ảnh của Anh hùng liệt sĩ, phi công Trần Nguyên Năm. Ảnh do nhân vật cung cấp. |
“Do chiến tranh, ai cũng muốn giữ chồng ở lại bên mình nhưng vì đất nước nên tôi cũng không nỡ. Ngày anh ấy đi, gia đình nội ngoại đều nghèo đói, chỉ có câu chuyện dặn dò tâm tình để chồng mình ra đi chân cứng đá mềm. Đến đầu năm 1954, anh ấy biên thư về thông tin cho vợ và gia đình là đã vào bộ đội chủ lực. Mãi tới cuối tháng 5-1954, sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, chồng tôi mới trở về quê nhà nhưng chỉ ở được 3 ngày lại phải quay trở lại đơn vị rồi biền biệt 3 năm sau mới về thăm nhà lần thứ hai” – bà Mai rưng rưng nhớ lại. Bà vẫn nhớ mãi cái ngày chồng khoác ba lô lên đường ra chiến trận, tiễn anh đi ở bến quê sông Lồi năm ấy, khi bóng anh đã khuất dần sau lũy tre làng, chị chỉ biết giấu mặt vào tay mà khóc thầm.
Và, cho đến 3 năm sau, Trần Nguyên Năm được đơn vị cho về phép. Ngày về quê nhà thăm vợ, chị vẫn đón anh ở bến quê năm ấy. Ở với nhau mấy đêm, dường như có linh tính mách bảo chồng mình sắp phải đi xa lần nữa, chị gượng hỏi thì anh thủ thỉ: “Đợt này anh đi làm công tác bí mật, có thể tận 10 năm mới gặp lại, em ở nhà gắng đợi. Sau này, anh sẽ bù đắp lại cho em nhiều hơn nữa”. Ngày ra đi, ông Năm cũng chỉ nói với vợ như vậy. Còn phần bà Mai ngày đó chỉ biết chồng mình đi làm theo nhiệm vụ của Đảng giao phó. Người dân trong làng dò hỏi, bà cũng chỉ biết trả lời là chồng được cử ra Hà Nội công tác. Mãi sau này, bà mới biết chồng mình được quân đội cử đi học lớp phi công ở Trung Quốc để về nước phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tới tháng 6-1964, Trần Nguyên Năm mới được đơn vị cho về quê 5 ngày. Về quê, vợ chồng hàn huyên chưa được nhiều thì Trần Nguyên Năm nhận lệnh phải trở lại đơn vị. Những ngày tháng biền biệt xa cách, ngày trở về bên nhau, quãng thời gian ấy ngắn ngủi đối với người vợ trẻ như bà Mai vô cùng vui sướng khi tận mắt thấy chồng trở về bằng da, bằng thịt. Thời khắc ấy, bà như vỡ òa niềm hạnh phúc khôn tả trong những tháng năm dài đằng đẵng sớm hôm tần tảo ở nhà chăm sóc bố mẹ già thay chồng. Những tháng ngày chồng đi “làm công tác đặc biệt”, bố mất, anh cũng không kịp về chịu tang. Một mình bà Mai lại phải thay chồng lo toan công việc trong gia đình. Ngày gặp lại, hai vợ chồng chỉ biết động viên nhau vượt qua khó khăn để chờ ngày đất nước được thống nhất sẽ trở về bù đắp cho nhau. “Gần 7 năm trời từ ngày anh ấy về phép để đi học lái máy bay, tôi mới được gặp lại chồng mình. Lần này, anh ấy dặn dò vợ nhiều lắm. Anh hứa khi đi ra Bắc sẽ sắp xếp trở lại đón vợ ra ở cùng. Nào ngờ, đó là lần cuối cùng vợ chồng tôi gặp nhau. Hôm nghe tin báo phi công Trần Nguyên Năm đã anh dũng hy sinh trên bầu trời Thanh Hóa, tôi đau xót lắm… Tình nghĩa vợ chồng chưa vẹn tròn, chiến tranh đã cướp đi người chồng của tôi”-Nhìn lên di ảnh của chồng, cho đến bây giờ, mỗi lần nhắc lại chuyện người chồng đã ngã xuống vì Tổ quốc, bà Mai vẫn đau đáu một nỗi niềm.
Nhớ về anh, trọn đời son sắt
Sau ngày chồng bà Mai, Anh hùng, phi công Trần Nguyên Năm hy sinh anh dũng bảo vệ Tổ quốc trên bầu trời cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa) ngày 4-4-1965, cả gia đình anh ở quê nhà đau xót cả một thời gian dài. Lúc nhận được tin đau buồn ấy, bà Mai đang trực ở trạm xá của xã ngất lên, lịm xuống.
|
Bà Mai cùng với con, cháu của mình trong căn nhà được Quân chủng Phòng không-Không quân xây tặng. Ảnh: NGỌC THÁI. |
“Đau buồn lắm chú ạ. Vợ chồng ở với nhau chưa tròn một năm kể từ khi cưới cho đến số lần về phép của anh ấy. Chưa có với nhau một đứa con cho vui cửa, ấm nhà, anh ấy đã vĩnh viễn ra đi”-bà Mai tâm sự. Cũng từ ngày biết tin chồng mình không còn nữa, bà Mai vẫn ở vậy, hằng ngày ôm hình bóng chồng như một điểm tựa để sống cho đến ngày hôm nay. Bố chồng mất năm 1958 khi anh Năm còn ở xa. Rồi một năm sau đó, khi con trai mình hy sinh, mẹ anh Năm cũng về nơi suối vàng. Hằng ngày, ngoài công việc ở trạm xá xã, đêm về, bà Mai lại sống trong cảnh lẻ loi đơn chiếc mà rưng rức nước mắt. Một thời gian sau, để bớt nỗi buồn đau tủi phận, bà Mai đã tự nguyện đón đứa cháu con em gái ruột của mình về nuôi dưỡng từ thuở còn chập chững bước thấp, bước cao cho tới khi lấy vợ, xây nhà, dựng cửa. Đến năm 1987, sau 15 năm làm công tác, do điều kiện sức khỏe, bà Phạm Thị Mai được nghỉ hưu sớm. Lúc này, người cháu cũng là con nuôi của mình-Nguyễn Ngọc Cường đã tròn 20 tuổi. Hai hình bóng trong căn nhà tranh vách đất thuở nào bấu víu nhau sống qua ngày đoạn tháng. Đến lúc anh Cường lấy vợ, có thêm con dâu bà Mai như có thêm niềm động viên để sống vui lúc tuổi xế chiều.
Đến năm 2003, Quân chủng Phòng không-Không quân cùng với Công ty bay dịch vụ miền Nam đã quyên góp, ủng hộ để xây dựng cho bà Phạm Thị Mai một căn nhà cấp 4 ngay trên chính nền đất ở cũ. Cũng từ đó đến nay, bà Mai không còn phải chịu cảnh tất bật trốn mưa, tránh nắng trong căn nhà cũ dột nát. Từ khi có căn nhà mới, đồng đội chồng năm xưa cũng thỉnh thoảng ghé thăm như phần nào động viên bà sống vui, sống khỏe những năm tháng tuổi già.
Nói về người vợ đồng đội của mình năm xưa, Trung tướng Trần Hanh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng tâm sự: “Trong phi đội 4 người cùng “con én bạc” MIG-17 xuất phát từ Sân bay Nội Bài (Hà Nội) vào Thanh Hóa đánh trả máy bay Mỹ bảo vệ cầu Hàm Rồng, Trần Nguyên Năm và 2 đồng chí nữa đã dũng cảm hy sinh. Phi công Trần Nguyên Năm mất đi để lại người vợ trẻ ở quê nhà. Mấy năm trước, tôi về Nghệ An thăm mới biết chị ấy vẫn ở vậy son sắt thờ chồng, tôi vô cùng cảm kích”. Còn với bà Phạm Thị Mai, 48 năm qua, đến ngày lễ, Tết lại lặn lội ra Nghĩa trang Mai Dịch (Hà Nội) để hương khói cho chồng.





