Trung tướng Cao Văn Khánh
Trung tướng Cao Văn Khánh
Trung tướng Cao Văn Khánh (1917-1980), quê ở Thừa Thiên Huế, trong một gia đình quý tộc trí thức của triều Nguyễn. Sau khi đỗ Cử nhân Luật, ông chọn nghề dạy học. Ông dạy trường tư nhưng vì dạy giỏi cho nên được Trường Quốc học Huế và Trường Đồng Khánh tại Huế mời chấm thi. Tham gia phong trào hướng đạo sinh, Cao Văn Khánh là hướng đạo sinh có tài tổ chức và chỉ huy, là một người yêu nước, ông được cách mạng bắt liên lạc và khuyên học Trường Quân sự (Võ bị) Thanh niên tiền tuyến ở Huế.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông cùng với các sinh viên của Trường tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế dưới sự lãnh đạo của ông Phan Tử Lăng (tốt nghiệp thủ khoa khóa quân sự chính quy đầu tiên của Pháp). Sau đó, ông trở thành Trung đội trưởng rồi Đại đội trưởng Giải phóng quân của Việt Minh ở Huế.
Ngày 23/9/1946, ông cùng một đơn vị Giải phóng quân của Thừa Thiên Huế lên đường Nam tiến và được cử làm Tham mưu trưởng mặt trận Nha Trang-Khánh Hòa. Sau đó, ông được cử làm Khu trưởng Quân sự khu 5. Ngày 19/12/1946, cùng với tướng Nguyễn Chánh ra lệnh cho nổ súng ở Đà Nẵng mở đầu cho toàn quốc kháng chiến ở khu 5.
Năm 1949, Đại đoàn Quân tiên phong (Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam) được thành lập do ông Vương Thừa Vũ (sau này là Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam) làm Đại đoàn trưởng. Cao Văn Khánh được Bộ Tổng tư lệnh điều ra Việt Bắc giữ chức vụ Đại đoàn phó theo sắc lệnh số 57 ngày 18/6/1949 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông cùng Đại đoàn tham gia nhiều chiến dịch lớn như: Chiến dịch sông Thao (1949) trên cương vị Chỉ huy phó, Chiến dịch Biên giới (1950)…
Đến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), khi Bộ chỉ huy chiến dịch chuyển từ chiến lược đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc, tiến chắc, Đại đoàn 308 dưới sự chỉ huy của Đại đoàn phó Cao Văn Khánh được giao nhiệm vụ đặc biệt: Mở đường hành quân sang đất Lào tiến công địch trên tuyến sông Nậm Hu, đánh phủ đầu để làm mất sức lực lượng quân Pháp hạn chế địch tiếp viện cho Điện Biên và bịt trước con đường quân Pháp sẽ tháo chạy. Ngày 22/5/1954, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc Toản.
Trong kháng chiến chống Mỹ, từ năm 1964, Cao Văn Khánh đã có mặt tại Quân khu 4, tuyến đầu của miền Bắc chi viện tiền tuyến lớn. Ông vào chiến trường miền Nam cũng rất sớm. Từ năm 1966 đến năm 1974, thời kỳ chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất, ông được cử làm Tư lệnh B5 (Trị Thiên Huế). Ông làm Phó Tư lệnh nhiều chiến dịch như: Khe Sanh (1968), Chiến dịch Đường 9 Nam Lào (1971), Quảng Trị (1972), Tây nguyên (1974).
Sau gần 30 năm trực tiếp chỉ huy chiến đấu tại các chiến trường, năm 1974, Cao Văn Khánh được điều về làm việc tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu trên cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng. Đây là thời gian khẩn trương chuẩn bị cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Trong mùa xuân đại thắng, cùng với Đại tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất Hoàng Văn Thái, Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh là một trong những trợ thủ đắc lực của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Ông từng ngày, từng giờ nắm chắc tình hình chiến sự, kịp thời báo cáo với Bộ Chính trị và Tổng tư lệnh, truyền đạt chính xác, kịp thời mệnh lệnh của Tổng tư lệnh đến các cánh quân, các lực lượng trên chiến trường. Góp phần làm nên chiến thắng Xuân 1975.
Với những thành tích trong quá trình công tác, ông được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba...


