TRUNG TƯỚNG MAI THANH TOÀN
TRUNG TƯỚNG MAI THANH TOÀN
Những năm 60 của thế kỷ XX, phong trào tòng quân xung phong vào miền Nam chiến đấu rầm rộ, sôi nổi trong thanh niên. Cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở tổ chức ngày nhập ngũ như ngày hội lớn của quê hương. Là một thanh niên sống có lý tưởng, hoài bão, sẵn sàng tự nguyện lên đường khi Tổ quốc cần. Tháng 4/1962, anh gia nhập quân đội, là chiến sĩ Đại đội 17, Trung đoàn 95, một trong những đơn vị chủ lực cơ động đầu tiên của quân đội ta, hoạt động trên tuyến lửa chiến trường Bình - Trị - Thiên.
Tháng 11/1962, đồng chí là Trung đội trưởng Đại đội 17, Đại đội vận tải của Trung đoàn 95. Với chức trách được giao, đồng chí luôn gương mẫu tiên phong, hoàn thành tốt nhiệm vụ, được đồng đội quý mến, tin tưởng. Tháng 8/1966, đồng chí vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, khi ấy, đồng chí mới tròn 22 tuổi. Đây là bước ngoặt quan trọng, đánh dấu quá trình phấn đấu trong toàn bộ thân thế, sự nghiệp hoạt động cách mạng của đồng chí.
Tháng 9/1966, đồng chí được đề bạt giữ chức Đại đội trưởng Công binh, Trung đoàn 95 và hành quân vào B3 (Mặt trận Tây Nguyên), tham gia chiến đấu trên địa bàn Quân khu 5. Sau thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, vào thời gian đó, quân Mỹ và quân chư hầu lồng lộn thực hiện các cuộc “tìm diệt”, bình định, ra sức đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam. Đồng chí cùng đơn vị dũng cảm chiến đấu ngoan cường, kiên quyết ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, bảo vệ căn cứ địa chiến khu.
Từ tháng 9/1967 - 12/1968, đồng chí được điều động làm Trợ lý Trinh sát của Trung đoàn 95, sau đó là Trợ lý Tác chiến của Trung đoàn 95, Quân khu 5. Trong hai năm đó, cuộc chiến đấu càng trở nên ác liệt hơn, địch mở rộng chiến tranh “leo thang” ra miền Bắc, ngăn chặn tuyến đường chi viện cho miền Nam. Đồng chí và đơn vị chiến đấu thọc sâu vào đội hình địch để chia cắt chúng, tham gia nhiều trận đánh quyết liệt trên địa bàn và giành thắng lợi, góp phần cùng quân, dân miền Nam đập tan chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.
Tháng 9/1973, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 95; tháng 10/1973 là Tham mưu trưởng Trung đoàn 95, Quân khu 5. Những tháng ngày ấy, cuộc chiến đấu càng trở nên ác liệt, đế quốc Mỹ dùng không quân rải thảm bom đạn dữ dội vào các vùng căn cứ miền Nam và dùng B52 bắn phá miền Bắc, chúng hung hãn ném bom xuống Thủ đô Hà Nội - Trái tim của Tổ quốc Việt Nam.
Đồng chí đã chỉ huy đơn vị chiến đấu anh dũng và lập nhiều chiến công, góp phần cùng quân, dân hai miền Nam - Bắc đập tan chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Tháng 2/1974, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn 24; đến tháng 8/1974, trở lại làm Trung đoàn phó Trung đoàn 95, Quân khu 5. Đồng chí chỉ huy đơn vị cơ động đánh địch trên chiến trường Tây Nguyên, hoạt động nhiều nhất ở các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắk, trên tuyến đường số 14, đường số 19. Mở màn cho Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí chỉ huy đơn vị phối hợp hiệp đồng cùng các đơn vị bạn tiến công giải phóng Buôn Ma Thuột.
Sau đó là cuộc hành quân thần tốc đánh chiếm thị xã Xuân Lộc, mở “cánh cửa thép” phía Bắc Sài Gòn để các binh đoàn chủ lực của ta tiến công giải phóng Sài Gòn. Đồng chí có mặt ở Sài Gòn vào giữa lúc Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, ngày 30/4/1975, trong niềm vui hân hoan của dân tộc. Từ đây, non sông thu về một mối, cả nước thống nhất cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tháng 3/1979, đồng chí được đề bạt giữ chức Sư đoàn phó Sư đoàn 324, Quân khu 4. Từ tháng 7/1980 - 7/1983, đồng chí là học viên Học viện Quân sự, học viên Trường Văn hóa Quân đội, học viên Học viện Quân sự cấp cao. Kết thúc khóa học, tháng 10/1985, đồng chí được đảm nhiệm giữ chức Phó Hiệu trưởng Trường Quân chính Quân khu 1.
Bước vào thời kỳ đổi mới của đất nước, tháng 7/1986, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 311, Quân đoàn 26. Tháng 12/1988 - 7/1988, đồng chí được điều động làm Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng; sau đó là Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh. Năm 1992, đồng chí vinh dự được Đảng và Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 4/1994, đồng chí được đề bạt giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1.
Tháng 6/1996, đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1. Tháng 8/1998, đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Tư lệnh Quân khu 1. Tháng 2/2002, đồng chí vinh dự được thăng quân hàm Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 3/2007, đồng chí nghỉ hưu trí theo chế độ.
Cả cuộc đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho đất nước và xây dưng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc, đồng chí đã lập nhiều công lớn, được nhân dân trân trọng, quý mến. Đồng chí vinh dự được Đảng và Nhà nước, Quân đội nhân dân tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba, Huân chương Chiến công hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng nhất, nhì, ba và nhiều danh hiệu cao quý khác.
Hội yêu khí tài quân sự



