Người có công giúp đỡ cách mạng

Tượng đài trong lòng dân

Hải Phòng15/01/2026Nguyễn Thị Thu Hiền (Đoàn Xã Kẻ Sặt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Bộ đội Cụ Hồ” ở thời đại nào cũng luôn trung thành vô hạn với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân; có tinh thần đồng đội, tinh thần kỷ luật tự giác và ham học hỏi, cầu tiến bộ... Đó cũng là nét văn hóa quân sự đặc trưng trong nền văn hóa Việt Nam, nét văn hóa vì con người dựa trên truyền thống và cốt cách Việt Nam.

Sự xuất hiện của “Bộ đội Cụ Hồ” trong suốt chiều dài lịch sử gắn với kháng chiến, kiến quốc, với bề dày đó so với lịch sử dân tộc là không dài, nhưng chỉ bằng thời gian đó, hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” đã đi vào lịch sử, đi vào đời sống đất nước, đời sống cộng đồng một cách tự nhiên. Họ trở thành hình tượng tiêu biểu và đáng tự hào của dân tộc Việt Nam anh hùng, được nhân dân ca tụng là "con người đẹp nhất", được coi là khát vọng vươn tới của tuổi trẻ.

“Bộ đội Cụ Hồ” dù ở hoàn cảnh nào cũng được thể hiện sâu sắc ở tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, luôn xung kích đi đầu, đứng vững ở nơi “đầu sóng ngọn gió”, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi khó khăn, gian khổ và chiến tranh ác liệt nhất. Những người “Bộ đội Cụ Hồ” sẵn sàng chiến đấu, hi sinh tuổi xuân và tính mạng của mình để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ biển đảo quê hương, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ nhân dân; tuyệt đối trung thành với Đảng, trọn hiếu với nhân dân; luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, giao phó.

Khó có thể kể hết công lao, sự hy sinh thầm lặng, những gian khó mà những người lính đã trải qua. Giờ đây, họ vẫn đang ngày đêm nhận những phần việc nặng, những gian khó để mang lại sự bình yên cho cuộc sống. Quả là những người mang trong mình tinh thần “thép”.

Còn nhớ đại dịch Covid-19 những năm trước, lực lượng bộ đội đã xung phong đi đầu, xông pha trên các mặt trận phòng chống dịch. Không chỉ tham gia các hoạt động tuyên truyền đến từng người dân để nhân dân nhận biết cách phòng, chống dịch bệnh, họ còn lăn xả kiểm tra, kiểm soát tại khu vực cửa khẩu, đo thân nhiệt để kịp thời phân luồng, cách ly những công dân nhập cảnh trái phép về Việt Nam… Bất kỳ phần việc nào cần, bộ đội đều có mặt. Đặc biệt, đã có hàng nghìn đồng chí có vợ sinh con, bố mẹ đau ốm "thập tử nhất sinh" nhưng bản thân vẫn phải bám chốt, chặn dịch. Không ít cán bộ, chiến sĩ đã hơn nửa năm chưa một lần ghé thăm gia đình. Dọc giải đất biên cương, hàng nghìn tổ chốt chặn phòng dịch đã được lập nên ngay từ những ngày đầu có dịch. Một năm tròn, nhiều người lính chưa về thăm nhà. Một năm tròn, nhiều người lính ngủ rừng, bám bản. Tại rất nhiều chốt phòng dịch ở biên cương, bên cạnh những lán trại là vườn rau xanh um, là những gà vịt được các anh tăng gia. Nó không chỉ giúp người lính vơi nỗi nhớ nhà, nhớ người thân mà còn là niềm vui sau những giờ tuần tra căng thẳng, hơn hết là để bữa cơm chốt trực thêm đủ đầy… Đó là những hy sinh chẳng thể nào cân đong, đo đếm được...

Tinh thần “thép” đã được tôi lên từ trong thiên tai bão lũ, khi dịch giã hoành hành, những người lính đã kề vai, sát cánh, bất chấp hiểm nguy để bảo vệ an toàn tuyệt đối tính mạng, tài sản người dân. Đã có những hy sinh, mất mát, vì bình yên tổ quốc, vì sức khỏe nhân dân. Đã có những đơn vị bộ đội hành quân cứu dân vùng sạt lở, rồi chứng kiến thân thể họ bị vùi lấp giữa núi rừng. Sự anh dũng hy sinh của người lính đã làm lay động, làm thổn thức đến trái tim của triệu triệu người dân đất Việt.

Một “khó khăn” khác mà người lính Cụ Hồ phải đối diện là nỗi nhớ thương tận cùng đằng đẵng đối với hậu phương... Nơi biên cương heo hút đèo mây, giữa không gian thăm thẳm của chốn rừng thiêng nước độc... nỗi nhớ càng thêm da diết, cồn cào. Có chiến sĩ trẻ tâm tình: Anh em không sợ khổ, chỉ ngại đối diện với nỗi hiu quạnh đến độ sởn gai ốc. Có lúc yếu lòng bỗng thấy cô đơn, buồn tủi trực trào, cảm giác lạnh toát chạy dọc xương sống…

Với “Bộ đội Cụ Hồ”, có một góc khuất khác mà họ phải đối diện chính là muôn vàn khó khăn do điều kiện sống, công tác, điều kiện thời tiết và sự thiếu thốn vật chất đủ bề. Nơi nghỉ của họ sau những chuyến tuần tra, chốt chặn hầu hết chỉ là những túp lều tạm. Có những cơn mưa dông bất chợt, hay những trận mưa rừng, gió thổi, đã giật phăng mái lều của họ khiến cho đồ đạc của anh em sũng nước, anh em lại được “tắm mưa”. Nơi biên cương không có điện, không có sóng viễn thông, khi rảnh rỗi, họ lại kể cho nhau về chuyện hậu phương hoặc mở điện thoại xem ảnh vợ con, gia đình cho vơi đi nỗi nhớ...

Đến với các tuyến biên giới, giữa ngút ngàn mây núi, ở mỗi điểm chốt chỉ có vài ba anh em bộ đội bám vào nhau mà sống và thực hiện nhiệm vụ. Các chiến sỹ quân hàm xanh phải ngủ lán trại, nằm phản gỗ kê trực tiếp trên nền đất lạnh, ăn cơm với rau rừng và những loại thực phẩm lâu lâu mới được tiếp tế. Thế nhưng các anh vẫn kiên trì bám trụ, vẫn duy trì đều đặn nền nếp chính quy, canh tực, mức cao nhất. Cuộc sống của những chiến sỹ áo xanh nơi biên cương, vùng sâu vùng xa quá thiếu thốn, gian khổ, ước mơ của cán bộ, chiến sĩ nơi đây rất đỗi bình dị. Thứ mà các anh mong đợi nhất chính là những cục pin sạc dự phòng hay những phong thư... Thế mới hiểu, sự hy sinh của họ lớn nhường nào!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn