Út Nghét – người nữ biệt động Anh hùng giữa lòng địch
Út Nghét – người nữ biệt động Anh hùng giữa lòng địch
Giữa những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi
vùng đất Trảng Bàng đầy bom đạn, có một nữ chiến sĩ biệt động mang bí danh “Út
Nghét” lặng lẽ chiến đấu, lập nên nhiều chiến công vang dội. Cuộc đời và sự
nghiệp cách mạng của Phan Thị Út không chỉ là minh chứng cho lòng dũng cảm,
mưu trí mà còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất của người phụ nữ
Việt Nam.
Từ cô gái An Tịnh đến nữ đội trưởng biệt động mưu trí
Sinh năm 1945 trên vùng đất giàu truyền thống cách mạng xã An Tịnh, huyện
Trảng Bàng (nay là phường An Tịnh), bà Phan Thị Út sớm trưởng thành trong khói
lửa chiến tranh. Mới 15 tuổi, bà đã tham gia cách mạng. Đến năm 17 tuổi, bà trở
thành Đội trưởng Đội biệt động mật xã An Tịnh, một nhiệm vụ đầy hiểm nguy, đòi
hỏi bản lĩnh, sự gan dạ và tinh thần thép. Bà nhiều lần tổ chức diệt ác, lập được
nhiều thành tích.
Năm 1963, trong bối cảnh địch ra sức thực hiện chiến lược “ấp chiến lược”, gom
dân lập khu trù mật nhằm kiểm soát và cô lập lực lượng cách mạng, nữ đội trưởng
trẻ tuổi cùng đồng đội bám địa bàn, trực tiếp tham gia vận động nhân dân đấu
tranh, phá thế kìm kẹp của địch, góp phần làm thất bại nhiều âm mưu của chúng
ngay từ cơ sở.
Những năm 1964–1966, ở vùng An Bình, An Thới, bằng sự mưu trí và quả cảm, bà
cùng đồng đội tổ chức nhiều trận “diệt ác, trừ gian”, tiêu diệt các tên ác ôn khét
tiếng như tên Trung uý Bàng (Ban Hai), tên Ngay tại quán Bà Chín Mãi; tiêu diệt
tên Khỏi tại chợ Suối Sâu, góp phần bảo vệ cơ sở cách mạng và tạo niềm tin cho
nhân dân. Các trận đánh được thực hiện ngay giữa ban ngày hoặc tại những địa
điểm đông người như quán xá, chợ, nơi tưởng chừng an toàn của địch cho thấy sự
táo bạo và quyết đoán của nữ biệt động.
Giai đoạn 1967–1969, hoạt động của bà ngày càng dày đặc và nguy hiểm hơn khi
trực tiếp theo dõi, trừng trị các tên ác ôn theo dõi gia đình cách mạng để làm tiền
tại chợ chiều Trảng Bàng. Bà theo dõi tên Dễ và bắn làm hắn bị thương nặng tại
tiệm hớt tóc Trọng Nghĩa. Bà ám sát tên Nô nhân viên Băng II, Chi khu Trảng
Bàng, làm hắn bị thương nặng. Không chỉ tham gia các trận ám sát chính xác, bà
và đồng đội ném lựu đạn vào đoàn xe hậu cần của Mỹ từ TP.HCM chạy về Trảng
Lớn, làm cháy xe và chết 3 tên sĩ quan Mỹ. Bà và đồng chí út Coi bắn bị thương
tên Khi và bắn chết 1 tên lính. Đó là những trận đánh không cân sức, nhưng bằng
lòng quả cảm, bà và đồng đội đã biến yếu thành mạnh, đánh trúng vào những mắt
xích quan trọng của địch.
Không chỉ chiến đấu, bà còn là người đồng đội nghĩa tình. Năm 1969, khi đồng chí
bị thương, bà trực tiếp tham gia nuôi giấu, chăm sóc, bất chấp nguy hiểm rình rập.
Trong chiến tranh, những nghĩa cử ấy không chỉ thể hiện tình đồng chí sâu sắc mà
còn góp phần giữ vững lực lượng cách mạng.
Vào sinh ra tử, giữ trọn khí tiết người chiến sĩ cách mạng
Năm 1970, bà về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Bà được điều về Huyện Tòa Thánh,
công tác tại Huyện ủy Tòa Thánh, được phân công công tác tại Nội ô Tòa Thánh,
một khu vực được địch kiểm soát chặt chẽ. Tại đây, bà tiếp tục được giao trọng
trách xây dựng và làm Đội trưởng Đội biệt động tự vệ mật. Trong lòng địch, bà
cùng đồng đội triển khai nhiều trận đánh táo bạo. Tháng 4/1970, bà ám sát, tiêu
diệt tên Bảng nhân viên Ban II Hoà Thành tại Ngã Ba đường Nông Lâm Súc.
Tháng 2/1970, bà và đồng đội ném lựu đạn tiêu diệt được 4 tên quân cảnh, ám sát
các đối tượng nguy hiểm, làm rung chuyển hệ thống kiểm soát của địch ngay tại
trung tâm.
Đỉnh điểm là tháng 2/1972, bà trực tiếp tham gia nhiều trận đánh lớn, trong đó có
vụ ném lựu đạn vào trạm cảnh sát ở Cửa Đông chợ Long Hoa, tiêu diệt và làm bị
thương nhiều tên địch.
Tuy nhiên, cuối năm đó, bà cùng 5 người trong đội bị bắt. Địch dùng nhiều cực
hình tra tấn dã man, nhưng người nữ chiến sĩ vẫn một mực giữ vững khí tiết, không
khai báo, bảo vệ bí mật cách mạng đến cùng. Bà và đồng chí Phan Thanh Đực bị
kết án tử hình, 4 người còn lại tù chung thân. Đối mặt với cái chết cận kề, nhưng
bà vẫn không nao núng. Ý chí kiên trung ấy đã trở thành điểm tựa tinh thần cho
đồng đội trong lao tù.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết đầu năm 1973, bà và các đồng đội không bị
thi hành án. Trong thời gian bị giam giữ, bà vẫn tham gia sinh hoạt chi bộ, giữ
vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng.
Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng 30/4/1975, bà được Thường vụ Tỉnh ủy Tây
Ninh đón về trong niềm vui vỡ òa của tự do. Sau chiến tranh, bà tiếp tục sống giản
dị, gắn bó với quê hương. Cuộc đời bà không ồn ào, không phô trương, nhưng
những chiến công và sự hy sinh thầm lặng đã góp phần làm nên trang sử hào hùng
của vùng đất Tây Ninh.
Từ cô gái trẻ năm nào bước vào chiến trường với lòng yêu nước cháy bỏng, đến
người nữ biệt động gan dạ giữa lòng địch, cuộc đời của bà Phan Thị Út – “Út
Nghét” là biểu tượng sống động của tinh thần “trung dũng, kiên cường” của phụ nữ
Việt Nam. Những đóng góp to lớn của bà không chỉ xứng đáng được tôn vinh bằng
danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn là nguồn cảm hứng để
các thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục gìn giữ, phát huy truyền thống cách mạng
vẻ vang của dân tộc.



