Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Văn Đức Giai

Văn Đức Giai

Cần Thơ12/12/2025DIỆP KHẢI HOÀNG (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Văn Đức Giai

Văn Đức Giai (1807–1864), quê ở xã Phù Hậu, nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, sinh trong gia đình khoa bảng, cha là tri huyện, nổi tiếng hay chữ. Từ nhỏ, ông được cha trực tiếp dạy dỗ và đã học gần xong Tứ thư, Ngũ kinh trước khi cha mất năm 1823. Mồ côi cha, lại là con trai độc nhất, ông phải đi dạy học để nuôi mẹ, nhưng vẫn quyết chí đèn sách và theo học các bậc thầy danh tiếng như Hồ Đức Cảnh, Dương Doãn Nguyên, đồng thời kết giao với nhiều sĩ phu lớn đương thời.

Năm 1828, ông đỗ Tú tài; đến năm 1843 đỗ Cử nhân, và năm sau – khoa Giáp Thìn 1844 – đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khi đã 38 tuổi. Tuy đỗ đạt cao, ông không ra làm quan ngay vì mẹ già đau yếu, nên ở nhà dạy học suốt 10 năm để tiện phụng dưỡng. Sau khi mẹ mất, ông cư tang thêm ba năm, mãi đến năm 50 tuổi mới xuất chính.

Từ năm 1856, ông giữ chức Đốc học bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; sau được điều về kinh làm Ngự sử – các chức vụ đòi hỏi học vấn và phẩm hạnh cao. Khi Pháp đánh chiếm Nam Kỳ (1861), Văn Đức Giai vào Gia Định, rồi nhận lệnh chiêu mộ nghĩa dũng, sau đó đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như Lang trung Bộ Binh, Tán tương quân vụ, Tuyên phủ sứ Phú Yên, Biện lý Bộ Hình.

Năm Quý Hợi 1863–1864, trong chiến dịch bình định quân Tạ Văn Phụng ở Hải Yên, ông được cử làm Tán lý quân vụ, phối hợp cùng Trương Quốc Dụng. Tháng 6 năm 1864, trong trận La Khê (nay thuộc Yên Hưng, Quảng Ninh), quân triều đình thất thế, Văn Đức Giai cùng nhiều tướng sĩ tử trận. Có thuyết cho rằng ông tự tận để giữ tiết nghĩa. Vua Tự Đức nghe tin đã đổi tên ông thành Văn Đức Khuê, ví ông như sao Khuê – biểu tượng của người tài đức sáng chói, và truy tặng chức Bố chính sứ. Nhân dân La Khê lập đền Quan Đại thờ ông và Trương Quốc Dụng.

Lê Đình Diên (1824–?), người thôn Hạ Đình, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, Hà Nội (nay thuộc phường Khương Đình, quận Thanh Xuân), là học trò của danh sư Vũ Tông Phan. Ông đỗ Cử nhân năm 1848 và đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Dậu 1849. Sau khi đỗ đạt, ông được bổ làm Tri phủ Long An nhưng mắc dịch đậu mùa nên xin về quê, rồi được đưa vào ngạch học quan: làm Giáo thụ, sau đó là Đốc học Nghệ An, rồi Đốc học Hà Nội, được sĩ tử kính trọng.

Ông từng bị đoàn thám hiểm của Jean Dupuis (Đồ Phổ Nghĩa) hành hung khi phản đối hành vi đo đạc trái phép tại Cửa Bắc, sự kiện góp phần khơi dậy phong trào nghĩa sĩ Hà Nội. Năm 1870, ông được triệu vào Huế làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám nhưng cáo bệnh từ chối, rồi mở trường tư nổi tiếng – trường Cúc Hiên – ở phố Hàng Đậu. Suốt đời dạy học, ông có hơn 3.000 học trò, nhiều người thành danh. Di sản của ông gồm các tập văn mẫu như Cúc Hiên biểu tuyển, Cúc Hiên chiếu tuyển, Cúc Hiên tứ lục, cùng nhiều văn bia còn lưu. Ông được người đời ca ngợi là bậc đại nho, thầy lớn, cả tài – đức đều vẹn toàn, sống giản dị, yêu nước và hết lòng với sự nghiệp giáo dục.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Văn Đức Giai | Câu chuyện thời hoa lửa