VI HUYỀN ĐẮC
Sinh ngày 18/12/1899 tại Trà Cổ, tỉnh Quảng Ninh; Vi Huyền Đắc còn có bút danh là Giới Chi. Người cha của ông làm thầu khoán, mộ phu làm đường, làm mỏ và có một đội thuyền vận tải riêng hoạt động ở vùng Đông Bắc Bắc Bộ. Mẹ là cháu ngoại tiến sĩ Hán học Nguyễn Tư Giản (1823 -1890).
Sinh ngày 18/12/1899 tại Trà Cổ, tỉnh Quảng Ninh; Vi Huyền Đắc còn có bút danh là Giới Chi. Người cha của ông làm thầu khoán, mộ phu làm đường, làm mỏ và có một đội thuyền vận tải riêng hoạt động ở vùng Đông Bắc Bắc Bộ. Mẹ là cháu ngoại tiến sĩ Hán học Nguyễn Tư Giản (1823 -1890).
Thuở nhỏ Vi Huyền Đắc học chữ Hán, sau chuyển sang tân học. Tốt nghiệp Thành Chung ở Hải Phòng, ông thi vào trường Mỹ nghệ Hà Nội nhưng sau lại vào Sài Gòn làm lái xe và bắt đầu viết một số bài báo có xu hướng tiến bộ. Cha mất, Vi Huyền Đắc trở ra Hải Phòng kế nghiệp. Ông bắt đầu viết văn và mở nhà in Thái Dương văn khố trên phố Cầu Đất để xuất bản tác phẩm của mình và bạn bè. Có lẽ ông không có khả năng kinh doanh và cũng có thể do ông say mê văn chương hơn nên phải bán dần tài sản để sinh sống. Tuy nhiên, ông đã có những chất liệu sống sinh động để sáng tác.
Trước sau, Vi Huyền Đắc viết khoảng 20 vở kịch, đa số đều có tiếng vang, thời kỳ sung sức nhất là trước năm 1945. Vở đầu tiên gây được tiếng vang là “Uyên ương” (1927) tiếp đó là “Hoàng Mộng điệp” (1928). Từ 1927 đến 1930, kịch của Vi Huyền Đắc mang chủ đề bảo vệ những luân lý, đạo đức cũ, đề cao lý trí phong kiến. Đầu những năm 30, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Pháp, chuyển sang ca ngợi cái đẹp vị nghệ thuật, ông dịch vở Mactin (Martine) của J.J Bernard và viết “Nghệ sĩ hồn” (1932) ca ngợi tâm hồn thoát tục của người nghệ sĩ, viết “Kinh Kha” (1934) theo tinh thần hiệp sĩ.
Bước ngoặt mới của Vi Huyền Đắc được đánh dấu từ vở bi kịch “Kim tiền” và vở hài kịch “Ông ký Cóp”; diễn lần đầu tại Nhà hát Tây (nhà hát thành phố) Hải Phòng cuối năm 1938; phơi bày các thủ đoạn làm giàu và phi nhân tính của tư sản mại bản, đả kích cái đáng cười của lễ giáo phong kiến lỗi thời.
Trước 1945, Vi Huyền Đắc còn có các vở kịch có giá trị khác như “Trường hận”, “Xamurai” (giải thưởng của Viện hàn lâm Nixơ, Pháp 1936-1937, 1938), “Khóc lên tiếng cười” (1943), “Lệ Chi Viên” (1934), “Bạch Hạc đình” (1945), “Giêsu đấng cứu thế” (1945)... Trong kháng chiến chống Pháp, Vi Huyền Đắc tản cư về vùng tự do Yên Mô, Ninh Bình, tham gia viết kịch cho bộ đội địa phương. Năm 1954, Vi Huyền Đắc vào Nam, sống bằng nghề dịch thuật, viết văn và dạy học. Thời gian này ông viết “Từ Hi Thái hậu” và hoàn thành nốt vở “Thành Cát Tư Hãn” (1956), viết một số truyện ngắn, chủ yếu dịch sách tiếng Pháp và truyện của Quỳnh Dao, nhà văn Đài Loan.
Đất nước thống nhất, Vi Huyền Đắc ra sống ở Hà Nội và mất tại đây, ngày 10/8/1976.


