VÕ AN ĐÔNG
Đồng chí Võ An Đông, tên thật là Hồ Văn Thỏa, sinh ngày 22/03/1922, tại xã Viên Nội, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây, trú quán tại 180 đường Chùa Hàng, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Chứng kiến cảnh lầm than của nhân dân dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, Võ An Đông đã sớm tham gia hoạt động cách mạng và phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đồng chí Võ An Đông, tên thật là Hồ Văn Thỏa, sinh ngày 22/03/1922, tại xã Viên Nội, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây, trú quán tại 180 đường Chùa Hàng, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Chứng kiến cảnh lầm than của nhân dân dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, Võ An Đông đã sớm tham gia hoạt động cách mạng và phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 3/1945, Võ An Đông tham gia Việt Minh và hoạt động bí mật tại địa phương. Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí được cử làm Chủ tịch Ủy ban Cách mạng huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), sau đó là Bí thư Huyện ủy Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
Thời gian, từ năm 1949 đến năm 1954, đồng chí giữ các cương vị: Chính trị viên, Tỉnh đội trưởng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hưng Yên. Tháng 6/1954, đồng chí được bổ nhiệm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 137 thuộc Khu Tả Ngạn; tháng 9/1955, giữ chức Thành đội trưởng thành phố Hải Phòng; Ủy viên Ủy ban Liên hiệp đình chiến Bắc Bộ - Ban Tiếp quản Hải Phòng. Từ tháng 10/1955, đồng chí được cử giữ các cương vị: Tham mưu phó Trung đoàn 139, Sư đoàn 328; Tham mưu trưởng, Trung đoàn trưởng trung đoàn 42, Quân khu Đông Bắc. Tháng 5/1960, đồng chí được cử đi học tại Liên Xô; tháng 8 năm 1964, là Tham mưu trưởng Sư đoàn 350, Quân khu 3. Tháng 6/1966, đồng chí vào Nam chiến đấu, giữ chức vụ Phó Sư đoàn 2, Quân khu 5; Phó Tham mưu trưởng Mặt trận 4, Quân khu 5; tháng 8/1969, là Hiệu phó Trường Sỹ quan lục quân. Tháng 9/1972, đồng chí giữ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh 350, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự Hải Phòng, Bí thư Đảng ủy quân sự Hải Phòng, được bầu vào Ban Thường vụ Thành ủy, là Quân khu ủy viên Quân khu Tả Ngạn, rồi Quân khu 3. Năm 1979-1980, đồng chí giữ chức Giám đốc Cảng Hải Phòng. Từ tháng 5/1983, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Phó Cục trưởng Cục Dân quân Tự vệ, Bộ Tổng tham mưu.
Hơn sáu mươi năm hoạt động cách mạng, tham gia hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, đồng chí luôn thể hiện là người cán bộ bản lĩnh kiên cường, người chỉ huy quả cảm, sáng tạo, cùng đồng đội lập nhiều chiến công xuất sắc, tiêu biểu là những trận đánh trên mặt trận Đường 5. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, với cương vị Tham mưu trưởng Sư đoàn 350, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh 350 – Hải Phòng, đồng chí đã cùng tập thể Đảng ủy, Bộ Tư lệnh chủ động, sáng tạo, tham mưu giúp Thành ủy, Ủy ban hành chính thành phố lãnh đạo, chỉ đạo công tác chi viện cho chiến trường miền Nam; xây dựng thế trận phòng không nhân dân rộng khắp để đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Trên cương vị là Tư lệnh Bộ Tư lệnh 350 (1972-1975), đồng chí đã cùng tập thể tham mưu cho lãnh đạo thành phố, đồng thời trực tiếp chỉ đạo các lực lượng vũ trang trên địa bàn Hải Phòng phối hợp, góp phần cùng quân dân Hà Nội làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” trong 12 ngày đêm tháng 12/1972, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút quân khỏi miền Nam. Đại tá Võ An Đông đã tham mưu cho Thành ủy, Ủy ban hành chính thành phố tích cực chi viện sức người, sức của cho chiến tranh miền Nam, góp phần cùng cả nước làm nên Đại thắng mùa xuân năm 1975.
Sau ngày đất nước thống nhất, với tầm nhìn sâu rộng, tư duy chiến lược về vị trí quan trọng của thành phố Hải Phòng trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh đối với sự phát triển chung của đồng bằng sông Hồng, tuyến phòng thủ Đông Bắc của Tổ quốc, Võ An Đông xác định chủ trương và biện pháp thực hiện nhiều công trình trọng điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng trên địa bàn. Điển hình các công trình: Đắp đê lấn biển tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng (1976-1979), lấn biển 2000 héc-ta, mở thêm 2 xã Đông Hưng và Tây Hưng; lấn biển đường 14 (1981-1982) 2000 hec-ta, mở thêm 2 xã mới; đắp đào và làm 12 km đường ra đảo Đình Vũ; đường xuyên đảo Đình Vũ – Cát Hải – Cát Bà (1980-1987)… Những công trình kết hợp kinh tế với quốc phòng đã làm thay đổi diện mạo vùng ven biển từ Bắc xuống Nam của thành phố, phát huy giá trị trong những năm đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố, trong đó có sự đóng góp to lớn của lực lượng vũ trang thành phố, mà công đầu thuộc về ông Võ An Đông.
Sau chiến tranh biên giới phía Bắc, ngày 21/10/1979, Võ An Đông được chỉ định làm Giám đốc Cảng Hải Phòng. Đồng chí đã mạnh dạn đề xuất với Bộ Chính trị, Chính phủ đầu tư cho Cảng Hải Phòng 3 nội dung quan trọng là: Xây dựng đội ngũ cán bộ mạnh; Đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ bản; Tăng cường trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong quân đội, được nghỉ hưu trở về với cuộc sống đời thường, trên cương vị là Chủ tịch Chi hội lịch sử quân sự thành phố, đồng chí đã tích cực nghiên cứu, biên soạn lịch sử quân sự, tổng kết chiến tranh. Đặc biệt, đồng chí đã có nhiều công sức và trí tuệ nghiên cứu, biên soạn và xuất bản 20 tập “Đường 5 anh dũng, quật khởi”.
Với những cống hiến đó, Võ An Đông được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, hạng Nhì, Huân chương Giải phóng hạng Ba, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.
Đồng chí mất năm 2006, hưởng thọ 85 tuổi.


