VÕ DUY DƯƠNG
THIÊN HỘ VÕ DUY DƯƠNG

Võ Duy Dương, sinh năm 1827 tại xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân xuất sắc nhất ở Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XIX. Thuở nhỏ ông nổi tiếng khỏe mạnh, giỏi võ, có thể nâng cùng lúc năm trái “linh” bằng sắt, nên được dân gian tôn xưng là “Ngũ Linh Dương”. Trong quá trình chống giặc biển ở Quảng Nam, ông lập công và được phong chức Thiên Hộ, cũng là lý do dân gian quen gọi ông bằng tên “Thiên Hộ Dương”.
Năm 1857, hưởng ứng chủ trương lập “đồn điền” mở rộng vùng đất Nam Kỳ do tướng Nguyễn Tri Phương triển khai, Võ Duy Dương đưa gia đình vào khai khẩn vùng Ba Giồng (Tiền Giang ngày nay). Giỏi làm ăn, có uy tín và bản lĩnh, ông nhanh chóng trở thành hào phú địa phương. Khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định năm 1859, ông liền đứng ra chiêu tập dân binh, tham gia đánh trả và lập nhiều công trạng, được phong Chánh quản đạo.
Sau thất thủ Gia Định, ông vượt biển ra Huế để hiến kế đánh Pháp. Năm 1860, ông được giao tiễu trừ giặc biển ở Quảng Nam và chính thức phong chức Thiên Hộ, tuy chỉ xếp trật Chánh bát phẩm nhưng ông không hề nản chí, một lòng quyết chiến giữ đất. Năm 1861, ông theo Khâm phái Đỗ Thúc Tỉnh trở lại Nam Kỳ và nhanh chóng tập hợp hàng ngàn nghĩa sĩ. Căn cứ Bình Cách (Tiền Giang) của ông kết nối với lực lượng Trương Định ở Gò Công và Phủ Cậu Trần Xuân Hòa tại Thuộc Nhiêu, tạo thành tuyến chiến sự rộng lớn, gây nhiều khó khăn cho quân Pháp.
Trong hai năm 1862–1863, nghĩa quân Võ Duy Dương nhiều lần đánh thắng địch, đặc biệt trong trận tổng công kích ngày 28-1-1862, buộc Pháp phải rút bỏ hàng loạt đồn lũy. Tuy nhiên, triều đình Huế ký Hàng ước 1862, nhượng ba tỉnh miền Đông và ra lệnh giải tán nghĩa quân. Võ Duy Dương cùng Trương Định kiên quyết chống lệnh, tiếp tục chiến đấu bảo vệ đất nước.
Sau nhiều tổn thất và trước sức ép ngày càng lớn, ông rút quân vào vùng Xoài Tư – Cây Gáo – rạch Ruộng, ngưỡng cửa Đồng Tháp Mười. Cuối năm 1864, được sự hỗ trợ của Đốc binh Kiều, ông đưa toàn bộ lực lượng vào sâu Đồng Tháp Mười, chọn Gò Tháp làm đại bản doanh. Tại đây, ông mở các “đường gạo”, xây dựng hệ thống đồn lũy hiểm yếu như đồn Tiền, đồn Tả, đồn Hữu…, tập trung hơn 10.000 nghĩa sĩ. Từ căn cứ này, nghĩa quân nhiều lần xuất quân đánh phá đồn trại Pháp dọc vùng Cai Lậy – Cái Bè – Mỹ Quới, đặc biệt là trận phá đồn Mỹ Trà ngày 22-7-1865 gây thiệt hại nặng cho đối phương.
Tuy nhiên, do bệnh tật, thiếu lương thực và điều kiện khắc nghiệt của vùng Đồng Tháp Mười, Võ Duy Dương lâm bệnh nặng và qua đời năm 1866, hưởng dương 39 tuổi. Sự nghiệp của ông để lại là biểu tượng của tinh thần bất khuất, trung nghĩa, kiên quyết chống ngoại xâm dù hoàn cảnh ngặt nghèo, góp phần tạo nên hào khí kháng Pháp của nhân dân Nam Bộ nửa thế kỷ XIX


