Bài viết

VƯỢT NGỤC BẰNG HÌNH THỨC CHUI RÀO

An Giang26/06/2026BAN LIÊN LẠC TÙ BINH VIỆT NAM (ĐOÀN THANH NIÊN ĐẶC KHU PHÚ QUỐC)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

VƯỢT NGỤC BẰNG HÌNH THỨC CHUI RÀO

Anh em thường lợi dụng những đêm trời mưa to, bọn lính gác ngồi trên cao bị mưa hắt vào phải lo che chắn, sao lãng việc canh gác, hoặc khi trời mưa, mát trời, chúng tranh thủ ngủ gật để cắt rào vượt ngục. Nhưng thông thường, anh em phải vượt qua 6 lớp rào cao vây quanh trại và nhiều lớp rào thấp khác có gài pháo sáng và mìn nên rất khó thoát. Nếu chui rào ra ban đêm thì còn dễ ẩn nấp, nhưng chui ra ban ngày thì phải vượt qua bãi trống, bọn lính gác ngồi trên chòi cao sẽ dễ dàng phát hiện. Vì vậy, anh em thường tổ chức chui rào vào ban đêm. Hình thức chui rào vượt ngục lúc đầu khá thành công nhưng càng về sau địch càng cảnh giác nên thường bị tổn thất.

- Tháng 6-1968, anh Cáp Đình Hội (Hai Hội) cùng hai người bạn là Tư Phước và Bảy Minh, các anh đều là cán bộ quân đội, chui rào ra đi trót lọt, ba ngày sau các anh về đến căn cứ cách mạng.

- Đêm 22-6-1968 diễn ra cuộc vượt ngục của nhóm tù binh ở khu B2 do đồng chí Nguyễn Ngọc Toản, sĩ quan đặc công, chỉ huy. Nhóm anh Toản lúc đầu gồm 3 người, vượt ngục bằng cách cắt rào, chui rào, vượt rào. Nhưng khi sắp hành động thì lại xuất hiện thêm hai nhóm mới: một nhóm 3 người và một nhóm 5 người cũng đi theo.

Các anh chia lại tất cả thành hai nhóm nhóm 6 người do Ba Toản chỉ huy cắt rào, ra khỏi khu B2 an toàn. Ba ngày sau các anh về đến căn cứ cách mạng.

Nhóm 5 người do anh Xạ chỉ huy, đi sau. Anh Xạ đã ba lần vượt ngục nhưng không thoát. Anh bị địch bắt lại và đánh đập hết sức dã man, bẻ lọi hai ngón chân cái, nhưng anh vẫn không từ bỏ ý định vượt ngục. Lần này anh dẫn 5 người đi và bị địch phát hiện bắn ở giữa rào nên không thành công.

- Ngày 20-1-1969, anh Nguyễn Văn Y (tên bên ngoài là Nguyễn Sĩ Quang, quê Quảng Nam) nguyên là Trung úy, Đại đội phó, công tác ở Thành đội Huế, một mình chui rào ra đi về căn cứ cách mạng.

- Ngày 31-12-1969, Nguyễn Hải Trung, quê Thái Bình, nguyên là Trung úy chính trị viên đại đội, cùng bác sĩ Ba Châu chui rào ra đi an toàn.

Bác sĩ Châu giải phẫu rất giỏi. Trong căn cứ cách mạng ở Phú Quốc, mặc dù dụng cụ rất thiếu thốn nhưng bác sĩ giải phẫu nhiều ca đạt kết quả cao, được cán bộ, chiến sĩ Phú Quốc rất tin tưởng và quý mến.

- Theo báo cáo của Tiểu đoàn 8 quân cảnh, đêm 29-5-1971, hai anh Nguyễn Bá Hợi và Lê Văn Đường từ phòng 7 phân khu B4 bò ra theo giữa rào B4 và A4, đến phòng điều hành A4 thì bị tên Bình nhất Tần bắt gặp và nổ súng. Anh Nguyễn Bá Hội bị vỡ sọ chết tại chỗ. Anh Lê Văn Đường bị gãy xương bả vai trái.

+ Tại Công điện số K.B.C.3884, Trung tá Bùi Bằng Dực, chỉ huy trại giam đã báo cáo Ban Chỉ huy quân cảnh (P.TĐCT): “Vào lúc 11g.22.45 ngày 11-9-1971, tại phân khu B4 có hai tù binh chui rào đào thoát, lính quân cảnh nổ súng. Kết quả: tù binh Nguyễn Văn Dung, số tù 521.3692 bị thương, tù binh Phan Văn Lan, số tù 521.3652 bị bắt lại được (1)

Theo phiếu trình số 12.343/TG đề ngày 8-12-1972 do Trung tá Bùi Bằng Dực, Chỉ huy trưởng Trại giam tù binh Phú Quốc ký, vào lúc 2 giờ 45 phút ngày 4-12-1972, hai anh Trần Trinh và Châu Văn Khánh thuộc phân khu A10 bò ra tới cổng chính liên phân khu A10 và B1 thì bị tên Trung sĩ Phạm Thấu bắn chết cả hai.

Ngoài ra, đạn còn bay vào làm anh Huỳnh Kế Mừng bị thương nhẹ ở chân.

Nhưng khi anh em ta bốc mộ anh Châu Văn Khánh đưa về an táng ở Nghĩa trang Liệt sĩ Dương Đông thì thấy có hai cây đỉnh 8 phân bị đóng ở mu bàn chân trái. Như vậy, anh không bị bắn chết tại rào mà bị bắt khảo tra đóng đinh đến chết.

+ Hàng ngày địch chở một xe nước đến để nhà bếp sửdụng. Nhận thấy đây là thời cơ thuận lợi, anh em có sáng kiến vượt ngục bằng hình thức chui xuống gầm xe, cạnh bồn nước theo xe ra ngoài. Xe chạy ra khỏi cổng trại đi lấy nước, trên đường leo dốc, nhằm nơi vắng vẻ, anh em nhảy xuống bên đường chạy về phía rừng, cuộc vượt ngục thành công.

+ Có trường hợp, hàng ngày bọn trưởng khu thường gọi một tù binh ra nhà hắn để nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa. Do đã có kế hoạch từ trước nên anh em không chống đối mà im lặng phục tùng, sáng đi làm việc ở nhà trưởng khu, chiều tối lại vào trại giam. Lúc này, tất cả tù binh đều chống đối không làm lao dịch và những công việc có tính chất hạ nhục. Do đó, trong trại giam nhiều anh em dị nghị, phản đối, cho rằng tù binh này đã cam làm đầy tớ cho kẻ thù. Nhưng anh vẫn nhẫn nhục chịu đựng, chờ cơ hội vượt ngục. Một hôm, nhân lúc ra ngoài nhà tên trưởng trại, anh đã ra đi mà địch không ngờ tới. Đến tối không thấy anh về, bọn địch mới báo anh đã vượt trại.

Trên đây chỉ là những cuộc vượt ngục mà chúng tôi thống kê được, ngoài ra còn có nhiều anh em vượt ngục lẻ tẻ, tổ chức không nắm hết được và có thể các anh đã mất, hoặc chưa có điều kiện để thông tin... Vì vậy, chắc chắn số người vượt ngục sẽ còn nhiều hơn nữa.

*

**

Vượt ngục của tù binh Phú Quốc không chỉ diễn ra ở Trại giam Phú Quốc mà còn ở những nơi các anh bị đưa đến giam giữ khác, hễ có cơ hội là anh em lại tổ chức vượt ngục như:

- Cuộc vượt ngục của tù binh Trại giam Phú Quốc bị đưa về giam giữ ở Trại giam Pleiku (tỉnh Gia Lai):

Ngày 18-3-1971, địch đưa 60 người ở biệt giam A2 về Trại giam Pleiku.

Ngày 2-10-1971, nhân lúc địch đưa tù binh đi lao động tạp dịch bên ngoài, lợi dụng sơ hở của địch, các anh: Lê Trọng Tựa (quê Thanh Hóa), Nguyễn Bá Tiết (quê Hải Dương), Trương Văn Côi, Hồ Hán, đã tổ chức cướp xe và cướp súng địch chạy vào rừng.

Kết quả, địch ra tiếp viện đã bắn chết anh Hồ Hán, bắn bị thương anh Trương văn Côi, hai anh Lê Trọng Tựa và anh Nguyễn Bá Tiết đã chạy thoát, sau đó về công tác ở tỉnh Gia Lai.

Ở Trại giam Cần Thơ có vụ vượt ngục của nhóm anh Võ Văn Lơn (tức Võ Ngọc Đảnh), vượt ngục được 5 ngày thì bị bắt lại.

Vụ vượt ngục đêm 25-12-1973, anh Đoàn Văn Công (tức Đoàn Thanh Phương) cùng 6 người khác vượt ngục ra ngoài trại giam, nhưng mấy ngày sau bị bắt lại v.v..

Chỉ có vụ vượt ngục của các anh: Nguyễn Dương Kế (tên trong tù là Nguyễn Văn Thanh), Nguyễn Văn Pha (tức Vũ Hồng Thăng), Trương Văn Long (tức Đàm Thế Sinh) và Nguyễn Văn Đào (tức Nguyễn Văn Đồ) ngày 23-12-1971 là thành công.

Có thể nói rằng, ở tất cả các nhà tù, trại giam của Mỹ -ngụy, tù binh và tù chính trị hễ có cơ hội là tổ chức vượt ngục. Trại giam tù binh Phú Quốc là trại giam trung ương nên tù binh phải đối phó với bộ máy cai tù tàn bạo và có kinh nghiệm hơn. Ở đây số lượng tù binh rất đông đảo, nhiều đồng chí có trình độ, có kinh nghiệm trong cả nước tập trung về nên kiên quyết giữ vững khí tiết, phẩm chất chính trị và đấu tranh chống địch ở mức độ cao hơn. Vả lại, số tù binh địch đưa về đất liền phần lớn là đã bị kỷ luật, các anh đã có thành tích đấu tranh chống địch, diệt chiêu hồi và vượt ngục đến nỗi địch phải lo sợ.

Khi các nhóm tù binh vượt ngục ra, cấp trên đã nhanh chóng nắm tình hình, đồng thời cũng rất quan tâm đến việc giải phóng tù binh.

Năm 1972, cấp trên cử một số cán bộ ra Phú quốc lập Ban Nghiên cứu kế hoạch phá trại giam giải thoát tù binh.

Ban Nghiên cứu đến Phú Quốc thì thực tế tại đây không đơn giản như kế hoạch đặt ra. Phú Quốc tuy là một đảo lớn có rừng núi sông ngòi, nhưng vẫn là một địa bàn nhỏ, cách xa đất liền. Căn cứ địa cách mạng ở Phú Quốc chỉ có thể chứa năm ba đại đội chứ không chứa được nhiều hơn vì khó khăn về địa hình và lương thực, thực phẩm.

Trại giam tù binh Phú Quốc giam giữ trên 30.000 người, cách ly nhau từng phân khu, mỗi phân khu trên dưới 1.000 người. Như thế phải phá trại bằng cách nào? Nếu dùng bộc phá đánh bứt một góc ngoài thì phá được một phân khu, đánh bứt hàng rào giữa liên phân khu thì phá được hai phân khu, song tù binh có thể bị sát thương.

Nhưng nếu phá xong, ra đi bằng cách nào? Một ngàn người trong một phân khu nếu từ các phòng chạy ra vượt qua được lớp rào do bộc phá nổ nhanh nhất cũng phải 20 phút hoặc nửa giờ. Khoảng thời gian đó đủ để địch điều hàng ngàn quân cùng các loại máy bay đến bắn phá và lực lượng chiến đấu từ đất liền sẽ kịp ra ứng cứu. Tù binh vượt thoát, nếu đã vượt qua Cầu Sấu, bưng Ba Gà, lên Bắc đảo thì ở đâu, lấy gì ăn, lấy phương tiện đâu vượt biển về đất liền... Hàng loạt vấn đề được đặt ra.

Khi xây dựng trại giam tù binh trung ương ở Phú Quốc để tập trung giam giữ phần lớn tù binh, Mỹ và tay sai đã nghiên cứu kỹ, bảo đảm không cho ta mở những cuộc tấn công giải thoát tù binh với quy mô lớn và nếu có việc gì xảy ra, chúng sẽ phản ứng nhanh hơn, thuận lợi hơn ta.

Cuối cùng, do điều kiện địa lý không thuận lợi, các đồng chí trong Ban Nghiên cứu kế hoạch phá trại giam giải thoát tù binh quyết định tại Trại giam tù binh Phú Quốc chỉ nên tổ chức vượt ngục, giải thoát từng toán nhỏ mới bảo đảm thắng lợi. Vì vậy, kế hoạch phá trại giam giải thoát tù binh không thực hiện được.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn