Xã hội Bình Trung dưới ách thống trị của phong kiến thực dân (nay thuộc xã Nghĩa Tá tỉnh Thái Nguyên)
Xã hội Bình Trung dưới ách thống trị của phong kiến thực dân (nay thuộc xã Nghĩa Tá tỉnh Thái Nguyên)
Sau khi hoàn thành chiếm đóng tỉnh Bắc Kạn, thực dân Pháp nhanh chóng thiết lập bộ máy cai trị để đàn áp ở các địa phương, hòng dập tắt phong trào đấu tranh của nhân dân. Trong quá trình tổ chức các cuộc hành quân xâm lược, chúng đã dựng lên nhiều đồn bốt, điếm canh ở nhiều nơi. Tại Chợ Đồn, sau khi đặt thành một đơn vị hành chính cấp châu, thực dân Pháp dựng lên chính quyền tay sai người bản xứ, đứng đầu là tri châu.
Năm 1914, sau khi sáp nhập xong tổng Nghĩa Tá thuộc châu Định Hóa (Thái Nguyên) vào châu Chợ Đồn (Bắc Kạn), Pháp lập đồn ở bản Điếng, cho một tên bang tá cai quản. Ở tổng có chánh, phó tổng. Ở xã có lý trưởng, phó lý, thủ bạ, kỳ mục, xã đoàn. Năm 1940, Pháp chuyển đồn bản Điếng lên Tông Quận. Những người có chức quyền thời Pháp thuộc ở tổng Nghĩa Tá cơ bản là người địa phương.
Thực hiện chính sách chia để trị, đối với dân tộc Dao, chúng đặt một hệ thống chính quyền riêng: Ở cấp châu có chức quản chiểu; ở tổng có chức chánh mán; ở xã có chức động trưởng[1].
Nằm trong hoàn cảnh chung của cả dân tộc, nhân dân Bình Trung thời đó phải chịu chế độ thuế khóa, phu phen tạp dịch nặng nề và bất công. Trong các thứ thuế như thuế đinh (hay còn gọi là thuế thân), thuế điền thổ, thuế rượu, thuế thóc ngựa, thì thuế đinh là thứ thuế nặng nề nhất. Thuế thân là thứ thuế “đánh” vào người đàn ông từ 18-60 tuổi, được chúng chia làm 3 hạng: người nghèo nhất là 2,5 đồng (tiền Đông Dương thời đó), người trung bình nộp 3 đồng, người giàu nộp 5 đồng. Đối với người Dao ở xã, do chỉ làm nương rẫy nên Pháp chủ yếu tính thuế theo đầu người hoặc số lượng thóc giống. Bình quân mỗi người phải nộp 0,20 đồng thuế nương rẫy (không kể già hay trẻ). Cứ mỗi khi đến kỳ bắt phu, thu thuế, cuộc sống của nhân dân trở nên vô cùng khổ cực. Bọn tổng lý, kỳ hào luôn tìm mọi cách để ăn hối lộ, ăn bớt hoặc ăn chặn của cải của nhân dân.
Cùng với thuế, chế độ phu phen tạp dịch của thực dân Pháp đối với nhân dân ta cũng rất nặng nề. Để làm đường, xây đồn bốt, người đi phu không những phải tự túc lương thực, thực phẩm mà còn bị bọn cai ký, lục lộ đánh đập, chửi mắng, nộp thêm tiền gạo cho chúng. Thâm độc hơn, chúng còn đầu độc nhân dân hút thuốc phiện, uống rượu cồn, cờ bạc làm cho người dân ngu muội để chúng dễ bề cai trị. Đối với đồng bào dân tộc, thời điểm này muối ăn rất quý nhưng chúng lại độc quyền muối ăn, chúng lấy muối làm phần thưởng cho tay sai và một số người dân chống phá cách mạng của ta.
Trong khoảng thời gian từ năm 1918-1945, trên địa bàn xã Bình Trung (ngày nay) có 1 trường dạy chữ quốc ngữ và Pháp ngữ đặt ở Bản Điếng, dạy cho con em các dân tộc thuộc các xã của tổng Nghĩa Tá. Trường gồm có 4 lớp: lớp đồng ấu, lớp 1-2 ghép và lớp 3. Mỗi lớp có gần 10 học sinh, do các thầy Đinh Văn Thi (Cao Bằng), Phan Ngọc Trúc (Hà Nội), Đỗ Đình Đằng (Nam Định), Chu Đình Thiện (Bắc Giang), La Công Ân (Thái Nguyên)… thay nhau dạy mỗi người mấy năm. Lớp học có 4 gian, cột bằng gỗ chò chỉ xẻ, lợp lá cọ, phên bưng ván. Bàn ghế học sinh được đóng bằng ván. Tuy nhiên, trường được lập ra để con cháu chánh tổng, lý trưởng đi học, nhằm phục vụ cho bộ máy cai trị của Pháp, 99% nhân dân các dân tộc ở Bình Trung vẫn mù chữ.
Trước năm 1945, cả xã không có nữ hộ sinh nào. Cả huyện Chợ Đồn chỉ có 1 y tá (nam), do đó phụ nữ đến kỳ sinh đẻ hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm thực tế, hoặc do các bà, các mẹ, các chị giúp đỡ. Khi trong nhà có người sinh nở, từ 3-5 ngày đầu chủ nhà không cho người ngoài vào, với quan niệm người lạ vào sẽ đem sài cho con trẻ và đem tạp uế về bàn thờ tổ tiên. Chủ nhà cắm một cành lá xanh ở chỗ rửa chân, gần cầu thang để báo hiệu nhà có người mới đẻ.
Cũng như sinh đẻ, nhân dân khi ốm đau đều dựa vào kinh nghiệm dân gian dùng thuốc Nam hoặc thuốc gia truyền để chữa trị hoặc mời thầy cúng về cúng bói, nên tình trạng hữu sinh vô dưỡng trở nên phổ biến. Nạn mê tín dị đoan cũng từ đó mà phát triển.
Bị thực dân, phong kiến áp bức, bóc lột nên nhân dân trong xã thường thiếu ăn từ 3-6 tháng, phải đào củ mài, củ nâu để độn cơm ăn. Nhân dân thường xuyên phải vay, mượn thóc gạo của nhà giàu, do đó phải chịu cảnh phát canh thu tô nặng lãi.
Từ những áp bức, bất công, đói nghèo, nhân dân trong xã nói riêng, cả nước nói chung khao khát được sống trong độc lập, tự do. Do đó, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tổ chức lãnh đạo nhân dân theo một đường lối đúng đắn, nhân dân Bình Trung nói riêng và cả nước nói chung đã một lòng đi theo Đảng.
[1]. Động trưởng là người đứng đầu một tổ chức hành chính do thực dân Pháp lập ra để quản lý người Dao.


