Ký sự về liệt sĩ Nguyễn Thị Hoàn (1930 – 1966)
câu chuyện KỂ VỀ bà Nguyễn Thị Hoàn, người phụ nữ sinh năm 1930 và hy sinh vào một ngày tháng ba năm 1966 giữa tuyến lửa đường sắt Thái Nguyên.
Có những cuộc đời không ồn ào, không được ghi chép thành những trang sử dày, nhưng lại lặng lẽ tỏa sáng trong ký ức của một gia đình, một vùng quê. Tôi tìm về nghĩa trang liệt sĩ Song Mai, phường Song Mai, tỉnh Bắc Ninh – nơi bắt đầu câu chuyện của bà Nguyễn Thị Hoàn, người phụ nữ sinh năm 1930 và hy sinh vào một ngày tháng ba năm 1966 giữa tuyến lửa đường sắt Thái Nguyên.
Bà Hoàn là vợ cả của bố chồng tôi, những gì tôi biết về bà không nhiều lắm có chăng thì cũng qua lời kể lại của những người thân trong gia đình chồng bởi lẽ bà nội và bố là những thân người tiếp xúc nhiều nhất với bà cũng đều không còn khi tôi về làm dâu. Tôi chỉ nghe lại lời kể của bà nội thuở nhỏ bà Hoàn là cô gái hiền lành, chịu thương chịu khó. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, bà sống như bao thiếu nữ thôn quê khác: sáng ra đồng, trưa gặt lúa, chiều về nhóm bếp. Đời sống khi ấy nghèo khó, nhưng bình yên theo nhịp mùa của nhà nông.
Rồi đất nước vào kháng chiến. Làng xóm không còn yên ả. Thanh niên tòng quân, tiếng trống thúc quân vang lên giữa sân đình. Bà Hoàn lập gia đình – bà lấy bố chồng tôi trong bối cảnh ấy – một đám cưới giản dị, không trầu cau linh đình, chỉ có lời hẹn ước giữa hai gia đình mà ngay cả chính hai người còn chưa hiểu điều gì sắp xảy ra và chặng đường phía trước là những năm dài chia xa.
Bố chồng tôi khoác ba lô lên đường. Từ đó, cuộc hôn nhân của bà bắt đầu bằng những tháng ngày chờ đợi.
Suốt mười bốn năm ròng rã, bà ở lại quê nhà cùng bà nội. Vừa làm ruộng, vừa tham gia du kích, rồi đảm nhiệm chức xã đội phó của phường Song Mai. Người ta vẫn nhớ hình ảnh người phụ nữ nhỏ nhắn nhưng cứng cỏi, băng qua những lối mòn, truyền tin, tổ chức dân quân tự vệ. Đêm đêm, ánh đèn dầu leo lét trong căn nhà nhỏ là nơi bà đọc những lá thư từ chiến trường gửi về.
Mười bốn năm – quãng thời gian đủ để một đứa trẻ sinh ra và trưởng thành. Nhưng với bà, đó là quãng đời đợi chờ trong thầm lặng. Năm 1958, bà sinh người con đầu lòng. Đứa trẻ lớn lên chủ yếu trong vòng tay mẹ. Người cha chỉ thỉnh thoảng ghé qua nhà trong những lần hành quân hiếm hoi. Phải đến năm 1963, gia đình mới thực sự có những ngày đoàn tụ trọn vẹn. Năm 1965, bà sinh thêm người con gái út. Hạnh phúc đến muộn, những tưởng như đã kịp tròn đầy.
Năm 1963, bà theo chồng lên Thái Nguyên, tham gia xây dựng Khu Gang Thép – biểu tượng của công cuộc kiến thiết miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Bà trở thành công nhân vận chuyển đường sắt. Công việc nặng nhọc, nhưng bà quen rồi với gian khổ.
Những năm 1964 –1966, chiến tranh phá hoại lan rộng. Tuyến đường sắt trở thành mục tiêu đánh phá. Tôi đã từng đứng trên đoạn đường ray cũ ấy, nghe người ta kể về những trận bom trút xuống, mặt đất rung lên từng hồi, khói bụi phủ mờ trời. Vậy mà công nhân vẫn bám trụ, sửa đường, thông tuyến, bảo đảm mạch vận chuyển không bị cắt đứt.
Sáng ngày 9 tháng 3 năm 1966, không quân Mỹ ném bom xuống khu vực bà và đồng đội đang làm nhiệm vụ. Giữa khói lửa, bà đã ngã xuống. Khi ấy, con gái út của bà còn chưa đầy một tuổi.
Sự hy sinh ấy không có lời trăn trối dài. Chỉ có một khoảng lặng kéo dài trong gia đình, trong những đứa trẻ lớn lên thiếu vắng bóng mẹ. Điều khiến tôi xót xa nhất khi tìm hiểu những thông tin về bà đó chính là khi bà mất chồng bà cũng không có ở nhà, ông theo tiếng gọi của Tổ quốc, tái ngũ năm 1965 và tiếp tục tham gia kháng chiến trên chiến trường miền Nam.
Đảng và Chính phủ truy tặng bà danh hiệu Liệt sĩ. Bà được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ phường Song Mai – trở về với mảnh đất đã nuôi bà lớn lên từ thuở ấu thơ.
Mỗi lần về nghĩa trang, đứng trước tấm bia khắc tên bà, tôi thường nghĩ đến hai chữ “hoa lửa”. Hoa – là tuổi trẻ, là tình yêu, là những năm tháng chờ chồng trong lặng lẽ. Lửa – là chiến tranh, là bom đạn, là tuyến đường sắt đỏ rực giữa khói bom.
Cuộc đời bà Nguyễn Thị Hoàn là sự giao thoa của hoa và lửa. Bà không chỉ là một người vợ thủy chung, một người mẹ tận tụy, mà còn là một nữ du kích, một công nhân tuyến lửa đã hiến trọn đời mình cho đất nước.
Ký ức về bà không nằm ở những lời ca ngợi lớn lao, mà ở sự bền bỉ, âm thầm. Ở mười bốn năm chờ đợi không một lời than thở. Ở những ngày lao động giữa bom rơi vẫn không rời vị trí.
Giữa bao biến động của lịch sử, có những con người như thế đã làm nên chiều sâu của thời đại. Và với gia đình tôi, bà mãi là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam thời chiến: dịu dàng mà kiên cường, lặng lẽ mà bất khuất.
Câu chuyện ấy không khép lại ở một ngày tháng ba năm 1966. Nó tiếp tục sống trong ký ức con cháu, trong những lần thắp hương tưởng niệm, và trong ý thức rằng tự do hôm nay được đánh đổi bằng máu và nước mắt của những người như bà.



