Khác

Trần Quí Cáp - Một nhà cách mạng dân quyền

Trần Quí Cáp - Một nhà cách mạng dân quyền

Thái Nguyên13/04/2026Trần Khánh Linh (phường Gia Sàng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trần Quí Cáp (1870-1908) là một nhà tiên phong cách mạng dân quyền và cũng là một tư tưởng gia, một danh sĩ Việt Nam, một trong ba lãnh tụ của phong trào Duy Tân. Trần Quí Cáp thuở nhỏ tên là Trần Nghị. Quê thôn Thai La, làng Bất Nhị, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).

Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông nghiệp thuần phác, thân phụ vừa cày ruộng vừa đọc sách. Tuổi trẻ, Trần Nghị rất thông minh, hiếu học, đọc quyển sách nào thì hiểu và nhớ ngay nhưng nhà nghèo không có sách, may được ở gần nhà cụ Phụ đạo Nguyễn Thành Ý nhiều sách nên thường qua lại để mượn đọc. Năm 20 tuổi, ông đã nổi tiếng văn chương, được các bạn đồng song kính mến. Đến học với cụ cử Lê Cung ở làng Nông Sơn, ông rất xuất sắc được cụ Đốc học Mã Sơn Trần Đình Phong nghe tiếng chọn về học ở trường tỉnh Thanh Chiêm năm 1895, được cấp học bổng và cho đổi tên thành Trần Quí Cáp, tự Dã Hàng, biệt tự Thích Phu, hiệu Thai Xuyên. Ông là một trong sáu học sinh lỗi lạc của cụ Đốc học Mã Sơn gồm Phạm Liệu, Nguyễn Đình Hiến, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Quang, và cũng là một trong các thí sinh xuất sắc nhất tại trường thi Hương trong trường thi Thừa Thiên.Thai Xuyên Trần Quí Cáp (1870-1908).Mặc dù học hành rất xuất chúng nhưng con đường khoa danh của Trần Quí Cáp lại rất lận đận, cùng dự khoa thi năm Giáp Ngọ (1894), Phạm Liệu đỗ Giải Nguyên còn ông thì hỏng trường ba. Năm Đinh Dậu (1897) ông mới đỗ Tú tài.Năm Mậu Tuất (1898), lấy tư cách là học sinh đã đỗ Tú tài, Trần Quí Cáp đi thi Hội nhưng không đủ điểm, phải về học lại trường Đốc tỉnh nhà. Trong thời gian này, Trần Quí Cáp đã có những sáng tác văn học có giá trị. Bài phú “Hoàn Bích quy Triệu” (trả ngọc bích về cho nước Triệu) của ông ra đời vào thời gian này là áng hùng văn kiệt tác, bộc lộ tâm chí hào hùng, nhiệt tâm cứu nước của người quốc sĩ, được nhiều người khâm phục, ưa thích.Năm 1898, thân phụ lâm bệnh nặng, Trần Quí Cáp phải ở nhà lo chăm sóc, phụng dưỡng thuốc thang. Sau khi thân phụ mất, từ năm 1898 đến năm 1903, trong thời gian cư tang thân phụ, Trần Quí Cáp ở nhà chăm sóc mẹ già, dạy học, không dự khoa thi Hương năm 1900 và cả thi Hội năm 1901.Ngay vào thời gian này, khi còn rất trẻ, mới chỉ quá ba mươi tuổi, trong quan hệ với đất nước, với cha mẹ, với bạn bè, với nghề dạy học, Trần Quí Cáp tỏ ra là một con người đã hình thành được những nhân cách cao đẹp.Dạy học ba năm ở nhà, mọi nơi nghe tiếng, đến học rất đông. Trần Quí Cáp là một nhà mô phạm khuôn mẫu, mực thước. Theo Huỳnh Thúc Kháng việc dạy học đối với Trần Quí Cáp thì “tình thầy trò như cha con, trìu mến nồng nàn, không những trong châu quận, cho đến trong miền Cù Mông, Đại Lãnh trở vào Nam, không biết bao nhiêu nhân sĩ đến thụ giáo, đều nhờ ơn trạch Tiên sinh”.Năm 1903, Trần Quí Cáp cùng với học trò của mình là Phan Bá Cảnh cùng ra Huế dự kỳ thi Hương, nhưng ông vẫn không đỗ nổi học vị cử nhân. Trong khi ấy học trò ông lại chiếm bảng hết sức dễ dàng.Mặc dù bị hỏng thi, người ngoài cuộc tỏ ý than tiếc, ngậm ngùi... nhưng Trần Quí Cáp vẫn ung dung, vui vẻ, không một chút oan ức, cay cú, buồn bực.Năm 1904, vẫn lấy tư cách là Tú tài học sinh, Trần Quí Cáp lại dự thi Hội và đã thể hiện một khả năng học vấn phi thường. Trần Quí Cáp là người thứ hai chỉ có Tú tài mà được thi Hội. Trước ông - người thứ nhất là Phạm Huy ở đời Tự Đức, người Hà Tĩnh. Khi vào thi Đình, Trần Quí Cáp đỗ Nhất giáp Tiến sĩ, đứng trên Hội nguyên Huỳnh Thúc Kháng, ở kỳ thi Hội lại đứng trên Đình nguyên Đặng Văn Thụy, người Nghệ An. Đây là một vinh dự đối với Trần Quí Cáp.Với thành tích thi cử xuất sắc đó, nhưng ông không dùng văn bằng để tiến thân trên đường làm quan nhằm “vinh thân phì gia”. Mà kể từ đó ông dốc một lòng vào việc nâng cao dân trí, chấn dân khí với cứu cánh làm cho dân giàu nước mạnh.Sau khi từ chối làm quan ông để tâm vào công ích, đến năm 1906 vì lời khuyên của bạn bè, đồng chí ông ra nhận chỉ bổ giữ chức Giáo thọ phủ Thăng Bình (gồm cả Thăng Bình, Quế Sơn, một phần Duy Xuyên). Với cương vị mới này, ông có điều kiện cùng các đồng hảo tổ chức thực hành công tác duy tân mang lại kết quả rất khả quan.Những biến cố bên ngoài, cũng như bên trong vào thời điểm năm 1900 đã thôi thúc các nhà cách mạng ý thức thực trạng xã hội Việt Nam. Họ trực tiếp dấn thân vào sự nghiệp cách mạng mong giải phóng dân tộc bằng con đường duy tân, tự cường. Những ý niệm đó, được thể hiện rõ qua phong trào Duy Tân ở Quảng Nam, Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, Công ty Liên Thành ở Phan Thiết và Hội Minh Tân ở Sài Gòn vào hồi đầu thế kỷ XX mà Trần Quí Cáp là một trong ba nhân vật kiệt hiệt nhất, khiến quan lại Nam triều và thực dân rất lo sợ.Phạm vi hoạt động của phong trào Duy Tân rất rộng. Ngoài các lớp học chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, các hội thương, hội nông, các cuộc diễn thuyết công cộng; nhất là những bài ca, bài vè được phổ biến rất rộng trong quần chúng thiếu học. Những cơ sở văn hóa ấy được tổ chức rải rác ở các miền quê Quảng Nam có một quy mô rõ rệt.Suốt từ năm 1905 đến năm 1908, thông qua các sáng tác văn học, thông qua việc dạy học và nói chuyện, diễn thuyết, Trần Quí Cáp đã dồn sức lực cho việc cổ xúy tân học và hoạt động duy tân, với mục đích “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, đề cao dân quyền”. Năm 1904 ông cùng Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng lên tận các vùng rừng sâu nước độc, núi non hiểm trở của Quảng Nam như Phước Sơn, Thạnh Mỹ để tuyên truyền, vận động. Năm 1905, ba ông lại lên đường đi vào các tỉnh phía Nam để quan sát tình hình. Đi đến đâu các ông cũng truyền bá tư tưởng Duy Tân, cổ xuý dân quyền và được nhiều người hưởng ứng. Khi đi ngang qua Bình Định gặp kỳ khảo hạch, Phan Châu Trinh đã làm bài thơ luật “Chí thành thông thánh” còn Trần Quí Cáp và Huỳnh Thúc Kháng làm bài phú “Lương ngọc danh sơn” để bài xích cái học cử nghiệp. Cả hai bài đều kí tên Đào Mộng Giác. Hai văn phẩm đó có một tác dụng rất lớn trong sinh hoạt văn hóa, xã hội thời đó. Đây là một hiện tượng vô cùng táo bạo và mới lạ trong việc bài xích khoa cử, phản kháng chế độ. Nó vừa là một thái độ thách đố nhà cầm quyền, vừa là tiếng sét nổ tung giữa bầu trời vẩn đục vì cái học từ chương đã làm cho nhiều nhân tài mai một. Đây quả là một sự kiện hiếm có mà Trần Quí Cáp và các đồng chí dùng khả năng văn tự để mạt sát khoa cử, cổ động tân học bằng một phương pháp trực tiếp, gây một tiếng vang lớn trong hàng trí thức và quần chúng nhân dân đương thời.Không những Trần Quí Cáp chỉ một mặt lưu ý vào thành phần trí thức, sĩ phu, mà ông còn có cái nhìn toàn diện về các giai tầng xã hội, nhất là lớp người bình dân phải sống trong vòng đen tối của chính quyền đương thời.Sau khi Nam du về tỉnh nhà, Trần Quí Cáp cùng các bậc thân hào trong tỉnh bắt tay thực hiện công cuộc Duy Tân cải cách, xướng lập Hội thương, trường Tân học. Phong trào Duy Tân đã được phát động ồ ạt không chỉ riêng trong tỉnh Quảng Nam mà cả những tỉnh Nam Trung bộ.Muốn làm việc lớn phải có lương tiền, Trần Quí Cáp lập hội buôn, hội nông. Các hội buôn, hội nông này được xem như là một hình thức hợp tác xã ngày nay. Các cơ sở này có nhiệm vụ khai thác, khuếch trương các nguồn lợi có trong nước và địa phương, nhất là giúp đỡ phần lớn dân nghèo thiếu khả năng buôn bán ở các miền xa xôi. Các hội thương, hội nông và các trường học này đã có một cơ sở khá vững chắc. Tuy là những hội buôn, nhưng các người hùn vốn (cổ đông) phần lớn là những nhà trí thức tiến bộ, hoặc người lương thiện có tinh thần cầu tiến, vị tha. Nên dù cho là hội gì đi nữa, đối với bọn thủ cựu, chính quyền Pháp đều là những cái gai khó chịu.Những thành công bước đầu của công cuộc canh tân này càng khiến cho ông và các đồng chí thêm hứng khởi, tin tưởng vào công việc của mình sắp thực hiện.Các sự kiện: Hội thương, Hội nông, các cuộc diễn thuyết, mở trường dạy Quốc ngữ, cúp tóc, Âu trang là những phần nhỏ của cuộc cách mạng chung (Duy tân) để đến năm 1908 có cuộc đại biểu tình bất bạo động, mà những người tham dự đều hớt tóc ngắn, ùn ùn từ các miền quê hẻo lánh kéo từng đoàn đi bộ đến tòa Sứ tỉnh. Hiện tượng những đoàn người kéo đến tỉnh lị đòi giảm sưu, bớt thuế năm 1908, có lẽ là một cuộc biểu tình vĩ đại đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Các cuộc biểu tình này không chỉ đơn thuần có nông dân nghèo, mà còn có một số lớn các nhà trí thức tiến bộ, khoa bảng tham dự.Hàng loạt người yêu nước bị thực dân Pháp bắt trong cuộc tranh đấu đòi giảm sưu thuế ở Trung Kỳ năm 1908.Phong trào cứ vậy diễn tiến mạnh mẽ, từ Thanh Nghệ đến Bình Thuận. Sau các cuộc biểu tình đó, một số nhà lãnh đạo may mắn sống sót thì bị đày Lao Bảo, Côn Đảo. Trần Quí Cáp tuy đương chức Giáo thọ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa vẫn bị bọn quan lại tay sai Nam triều hạ ngục và tìm cách thảm sát. Trong bài “Mộ chí sĩ Trần Quý Cáp” (1938), Huỳnh Thúc Kháng viết: “Năm Mậu Thân (1908) sau khi vào đến Ninh Hòa hơn một tháng, vừa dân huyện Đại Lộc nổi lên xin xâu, lan tràn tận các phủ, huyện khác. Rồi trong vòng một tuần, rộng đến khắp xứ, trong đến Phú Yên, ngoài đến Hà Tĩnh. Tiên sinh (Trần Quí Cáp) tuy đã vào miền Nam, nhưng vì cớ lãnh tụ phái tân học lại đề xướng nhân quyền, tự do; cũng như cụ Tây Hồ vậy, làm cho nhà đương đạo Khánh Hoà chú mục, kiểm soát thư từ ra vào, thấy có đôi câu cho là chủ động, kết án “Mạc tu hữu”.Tiên sinh lên đoạn đầu đài, thật là thê thảm! Trong lịch sử huyết lệ, tiên sinh là người thứ nhất!”.Trần Quí Cáp đã ngã xuống dưới lưỡi gươm bạo tàn (chém ngang lưng) của tay sai phong kiến thực dân với bản án “Mạc tu hữu” ngày 17 tháng 5 năm Mậu Thân (1908) tại cây đa làng Mức, vùng Chợ Cạn, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa trong tư thế hiên ngang của người anh hùng thung dung tựu nghĩa.Mộ Chí sĩ Trần Quí Cáp ở làng Bất Nhị, sau khi được cải táng.Cái án tử hình đối với Trần Quí Cáp được coi là “Mạc tu hữu”, tức là “Không cần có”, nghĩa là không cần có tội, hễ thấy cần giết là giết. Đó là cái án mà trong câu đối, cụ Phan Sào Nam đã nhắc lại là “Tam tự ngục” (Cái án ba chữ).Trần Quí Cáp trước sau như một, là một nhà chủ trương cách mạng dân trí, dân quyền, dân chủ. Tư tưởng duy tân tự cường của ông xuyên suốt từ khi còn là một người sống bằng nghề “bút canh” ở các trường làng, và nghề này ông đã phục vụ đến hơi thở cuối cùng với chức vụ khiêm nhường của một vị Giáo thọ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn